VỀ ĐÔ ĐỐC NGUYỄN CÔNG TRIỀU – ĐỨC ĐẠI VƯƠNG THẦN HOÀNG LÀNG ĐÔNG LAO

Đăng lúc: 2026-01-13 08:57:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 6 | Chuyên mục: Tinh hoa nghề Việt

Đông Lao là một làng quê truyền thống điển hình Bắc bộ. Làng có từ thời nhà Hậu Lê, trải qua gần năm trăm năm tồn tại và không ngừng phát triển, ngày nay ngôi làng đã thay da đổi thịt hòa nhịp với công cuộc hiện đại hóa của đất nước nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa cổ truyền đáng trân trọng. Có được những giá trị cốt lõi ấy là do nơi đây người dân vẫn duy trì và phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp mà đã được đặt ra từ thời Đức Thần hoàng, Đại vương Nguyễn Công Triều còn tại thế, coi đây như một sự tri ân và tôn kính vô bờ bến đối với Người.

Xuất thân bình thường, sự nghiệp vẻ vang

Nguyễn Công Triều sinh ngày 30-9-1614 (Giáp Dần), tạ thế ngày 29-5-1690 (Canh Ngọ) tại phủ Trấn Sơn Tây. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Kẻ Sau (nay thuộc thôn Đông Lao, xã Đông La, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội). Lúc còn nhỏ, ông có đi tu một thời gian; trưởng thành hơn, ông ra Thăng Long để thực hiện hoài bão nam nhi chi chí. Từ một người lính huấn luyện voi chiến, ông dần trở thành người có tài dụng binh trong binh chủng “tượng binh”. Và từ đó, ông liên tục lập được nhiều công trạng.

Ông đã giúp nước đánh dẹp các cuộc nổi loạn cát cứ ở vùng biện giới phía bắc, đánh tan lũ phản thần đội lốt chúa nhà Bầu là Vũ Công Tuấn ở Hưng Hóa – Tuyên Quang. Ông thực hiện hai lần sang tỉnh Vân Nam và dùng mưu bắt sống Mạc Kính Khoan, tàn dư cuối cuối cùng của Nhà Mạc, kẻ cố tình câu kết với Mãn Thanh nhằm thực hiện mưu đồ “cõng rắn cắn gà nhà” xâm lược nước ta. Ông được giữ chức Trấn thủ Sơn Tây, là một trong bốn trấn bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa.

Ông còn được triều đình nhà Lê giao trọng trách đi phân chia và cắm lại cột mốc ở biên giới phía bắc nước ta. Với nhiều công trạng như vậy nên ông được Vua phong chức Đô đốc thời Hậu Lê.

Công lao to lớn đối với quê hương

Hấp thụ tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Triều suốt đời chăm lo cho đời sống nhân dân, đặc biệt là tại quê nhà, lấy đó làm khuôn mẫu tốt để thực hành tại những địa phương khác. Trong thời kỳ làm quan trong triều, ông không chỉ quan tâm tới sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho người dân mà còn chú trọng nhiều tới các hoạt động xây dựng nền nếp phong giao, văn hóa, tập tục, lấy đó làm cơ sở để quản lý cộng đồng, tạo ổn định xã hôi lâu dài.

Khoảng thời gian cuối đời khi đã ngoài 60 tuổi, ông xin phép triều đình trở về quê hương an trí, trực tiếp đem trí tuệ và lương bổng của mình chỉ đạo dân làng cải tạo đồng ruộng, đào ngòi tiêu úng từ cánh đồng Trai chảy ra sông Nhuệ, cho xây dựng đình Đông Lao, chùa Đại Bi, chùa Hưng Phúc, mở Chợ Mới, đào giếng, đắp đường… Ông còn nêu lên những ý tưởng chính cho việc xây dựng hương ước làng, đặt ra lệ làng là cấm “tửu sắc”, chỉ “rước một chai” (tế 1 chai rượu trong các dịp lễ) để chống tệ nạn rượu chè nghiện ngập, đưa ra những lệ ước cụ thể để xây dựng gia đình bền chặt, dựa trên các mối quan hệ tình cảm yêu thương, gắn bó, ngăn ngừa nam nữ quan hệ bất chính trong xã hội, giáo dục thanh thiếu niên có nếp sống văn hóa tốt đẹp.

Dấu ấn sâu sắc trong các di tích làng

Cụm di tích làng Đông Lao đã được xếp hạng, lưu giữ những tư liệu lịch sử và nghệ thuật có giá trị đậm dấu ấn thời Hậu Lê. Hầu hết các di tích đều ghi lại dấu ấn sâu sắc về Nguyễn Công Triều.

Đình Đông Lao có một bia đá cung cấp thêm tư liệu về công trạng của Nguyễn Công Triều. Sau chùa Bi có ba gian nhà thờ, gian giữa thờ tượng truyền thần Nguyễn Công Triều cao 1,82 mét (tính cả bệ đá) sơn son thiếp vàng, gian bên trái có bia đá xanh hình viên trụ, diềm bia có chạm trổ những con rồng chầu nổi uốn mình rất sinh động, là một kiểu bia hiếm thấy thời Lê Trung Hưng.

Khu đền thờ Nguyễn Công Triều (Linh Quang từ) gồm ba gian, gian giữa thờ Nguyễn Công Triều. Nơi đây có đôi voi đá và đôi ngựa gỗ đồ sộ. Phía sau đền là lăng Nguyễn Công Triều được xây bằng những phiến đá xanh hình khối chữ nhật theo kiểu “tam cấp tứ trụ”.

Bảo vật được người dân trân quý nhất trong đình là quyển “sách đồng” có chiều dài 19,5 cm, chiều rộng 13 cm, dày 5 cm, nặng 4,5 kg, có tất cả 36 lá đồng. Trang đầu sách ghi rõ là sách được đúc vào ngày lành tháng 11 năm Đinh Mão (1687) niên hiệu Chính Hòa năm thứ 8. Nội dung sách nói về công đức của Nguyễn Công Triều và những điều khoán ước của dân làng Đông Lao.

Toàn bộ cụm di tích và những di vật quý giá đã được các cấp chính quyền và nhân dân Đông Lao bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn hết sức cẩn thận qua các thời kỳ lịch sử cho đến ngày nay.

Xứng đáng được tôn vinh muôn thuở

Đền thờ Đô đốc Nguyễn Công Triều gồm ba ngôi nhà xây kiểu chữ tam. Ngôi nhà giữa bày nhiều đồ thờ cổ quý hiếm; giữa nhà treo bức hoành phi lớn có bốn chữ Hán thiếp vàng: 南國偉人 Nam quốc vỹ nhân. Hai bên cổng đền thờ ông có câu đối ca ngợi như sau:

Giúp nước vạn năm, lòng trong như nước;
Vì dân một đời, đức tựa núi cao.

Nhà từ đường là di tích được Nguyễn Công Triều cho xây dựng để tưởng niệm tổ tiên, cũng là nơi hậu thế thờ ông (ban chính giữa). Nơi đây lưu giữ nhiều hoành phi câu đối ca ngợi công đức của ông sau khi tạ thế, tiêu biểu có ba câu sau:

Câu 1:
一生忠孝山河見
千載精神日月光
Nhất sinh trung hiếu sơn hà kiến;
Thiên tải tinh thần nhật nguyệt quang.
(Trung hiếu một đời non sông thấy; Tinh thần muôn thuở nhật nguyệt soi).

Câu 2:
一代精忠懸日月
千秋正氣壯山河
Nhất đại tinh trung huyền nhật nguyệt;
Thiên thu chính khí tráng sơn hà.
(Một thuở tinh trung cùng nhật nguyệt; Nghìn năm chính khí tráng sơn hà)

Câu 3.
心與石泉清千載威名標祀典
功相天地久萬年宗社屬祠堂
Tâm dữ thạch tuyền thanh, thiên tải uy danh tiêu tự điển;
Công tương thiên dịa cữu, vạn niên tông xã thuộc từ đường.
(Tâm trong sáng như nước suối đá, nghìn năm uy danh mẫu mực; công trạng lâu dài cùng trời đất, vạn thuở thờ cúng tại từ đường)

Trong sổ ghi chép thông tin về từ đường, cụ Nguyễn Kim Lương (nhà Hán Nôm học uy tín tại địa phương) có viết bài thơ chữ Nôm nhân ngày hoàn công tôn tạo di tích năm Mậu Dần (1988) như sau:

Từ đường bản thổ dựng thời Sơ
Nay lại trùng tu cảnh phụng thờ
Ân đức tiền nhân xưa để lại
(Tâm) Nhờ tài trụ quốc giúp Lê cơ 
(câu 3 và câu 4 trong thơ bát cú phải là một câu đối, nên ta dùng chữ tâm đúng phép và hay hơn chữ “nhờ”)


Công thần vạn thuở bia còn tỏ
Võ tướng muôn thu sử chẳng mờ
Giữ nước yên dân đời thịnh trị
Đền thờ cố tổ nét sơn tô.

Lời kết

Cụm di tích làng Đông Lao gồm đình, đền, chùa, miếu… đã giúp chúng ta không chỉ hiểu biết về vị Đô đốc khả kính Nguyễn Công Triều và lịch sử địa phương nói riêng mà còn chứa đựng nhiều thông tin quý giá về kinh tế, xã hội, mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 17,18 nói chung. Hơn ai hết, nhân dân Đông Lao ý thức rất rõ những giá trị văn hóa truyền thống được kết tinh trong những di tích cha ông để lại cùng với những truyền thống văn hóa phi vật thể quý báu lưu truyền từ ngàn xưa.

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về hay hội làng thường niên thì nơi đây lại rợp bóng cờ hoa hòa trong không khí vui tươi hồ hởi như trẩy hội. Hướng tới kỉ niệm ngày kị nhật lần thứ 411 (1614-2025) vào ngày 29 tháng 5 Âm lịch của Đức Đại vương, nhân dân Đông Lao lại nao nức chuẩn bị những phẩm vật truyền thống để dâng lên Người, trong đó không thể thiếu bánh mật, bánh nếp cỡ đại đẹp nhất, ngon nhất đạt giải nhất từ cuộc thi làm bánh của các tiểu ban thôn xóm.

Ngày nay, Đông lao không còn là một làng quê thuần nông truyền thống Bắc bộ mà đã vươn mình trở thành vùng ngoại ô sầm uất trù mật phía tây Thủ đô Hà Nội. Trong tương lai không xa, khi đường Vành đai 4 được thông tuyến qua làng thì chắc chắn địa phương sẽ có nhiều cơ hội bay cao vươn xa hơn nữa trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Theo quy luật thì mọi thứ đều thay đổi, nhưng với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta thì những gì Đức Đại vương Nguyễn Công Triều để lại nhất định sẽ được nhân dân Đông Lao trân quý và truyền thừa mãi mãi về sau. Mong thay sẽ có một con đường mang tên Nguyễn Công Triều để nhắc nhớ hậu thế về Người.

Theo doithoaiphattrien.vn