Tin90p.com - Tài sản tăng từ 1 tỷ đồng/năm phải kê khai bổ sung, không kê khai sẽ bị yêu cầu giải trình

Đăng lúc: 2026-07-01 15:01:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 12 | Chuyên mục: Tin90p

Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) và Nghị định 164/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị có hiệu lực từ 1/7 với nhiều quy định mới.

Từ ngày 1/7, quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn chính thức được áp dụng theo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).

Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung quy định về kê khai tài sản khi có biến động lớn trong năm.

Theo đó, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai bổ sung nếu trong năm có biến động về tài sản, thu nhập với giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31/12 của năm phát sinh biến động, trừ trường hợp người đó đã thực hiện kê khai theo quy định.

Luật cũng điều chỉnh ngưỡng giá trị đối với một số loại tài sản phải kê khai. Cụ thể, kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các tài sản khác chỉ phải kê khai khi mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên, thay vì mức 50 triệu đồng như trước đây.

Bên cạnh đó, các loại tài sản thuộc diện kê khai còn bao gồm quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất; tài sản, tài khoản ở nước ngoài; cùng tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

Đáng chú ý, trường hợp cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phát hiện người có nghĩa vụ kê khai có biến động tài sản, thu nhập trong năm từ 1 tỷ đồng trở lên nhưng không thực hiện kê khai bổ sung thì sẽ yêu cầu người đó cung cấp, bổ sung các thông tin có liên quan.

Đối với trường hợp tài sản, thu nhập có biến động tăng, người kê khai phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm theo quy định.

Ngoài việc siết chặt trách nhiệm kê khai, Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) cũng mở rộng và làm rõ nhóm đối tượng phải thực hiện kê khai tài sản, thu nhập hằng năm.

Theo đó, đối tượng phải kê khai bao gồm người giữ chức vụ từ phó vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương.

Cùng có hiệu lực từ ngày 1/7, Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Theo nghị định, tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên của người đó.

Danh mục tài sản phải kê khai gồm quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tiền Việt Nam, ngoại tệ dưới các hình thức tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay, tiền trả trước có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên; cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp và các loại giấy tờ có giá khác từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản số; các tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản và tài khoản ở nước ngoài.

Nghị định cũng quy định việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung và kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu thống nhất ban hành kèm theo.

Theo Điều 10 của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP, người có nghĩa vụ kê khai còn bao gồm người giữ chức vụ từ trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên tại các cơ quan nhà nước; trưởng phòng và tương đương tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí phụ trách trực tiếp công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân.

Ngoài ra, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai theo quy định.

Nghị định cũng xác định rõ những người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập để phục vụ việc theo dõi biến động, xây dựng kế hoạch xác minh và xác minh tài sản, thu nhập, gồm người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; tổ trưởng tổ xác minh tài sản, thu nhập và các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định.

Những chủ thể này có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ và chịu trách nhiệm về nội dung đã cung cấp theo quy định của pháp luật.

Theo phapluatplus.baophapluat.vn