Sự mỏng manh của tầng trung gian và bài toán kết nối chuỗi cung ứng
Số liệu từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2026 do Cục Thống kê công bố cho thấy một cấu trúc thiếu cân đối về quy mô của khu vực kinh tế tư nhân. Tính đến ngày 31/12/2024, cả nước ghi nhận 30.746 doanh nghiệp vừa, chỉ chiếm tỷ trọng 3,7% trong tổng số gần 839.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Đây cũng là nhóm có tốc độ tăng trưởng số lượng chậm nhất trong năm 2024 với mức tăng 6,5% so với thời điểm cuối năm trước. Cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu dồn vào hai nhóm nhỏ nhất, trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ cộng lại chiếm đến 93,7% tổng số lượng.

Sự mỏng manh về số lượng của tầng doanh nghiệp trung gian càng đáng chú ý khi đặt cạnh các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh. Phân tích tài chính cho thấy có 74,9% doanh nghiệp vừa báo lãi, bám rất sát mức 78,1% của nhóm doanh nghiệp lớn và vượt trội hơn hẳn so với mức 66,1% của nhóm doanh nghiệp nhỏ. Tương ứng, tỷ lệ thua lỗ của doanh nghiệp vừa dừng ở mức 24,7%, nhóm lớn là 21,6% và nhóm nhỏ lên tới 32,8%. Nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam công bố năm 2020 cũng xác nhận hiện tượng thiếu hụt doanh nghiệp quy mô trung gian tại Việt Nam là một thực tế kéo dài. Việc mở rộng lên quy mô trung gian đòi hỏi doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rào cản để duy trì hiệu quả hoạt động ổn định.
Tầm quan trọng của nhóm doanh nghiệp vừa thể hiện rõ nhất qua cấu trúc xuất nhập khẩu. Thống kê năm 2025 chỉ ra khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đóng góp tới 77% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ở phần còn lại, khu vực doanh nghiệp trong nước với sự áp đảo của các đơn vị nhỏ và siêu nhỏ chủ yếu tập trung phục vụ thị trường nội địa. Doanh nghiệp vừa đóng vai trò then chốt làm cầu nối giữa hai khu vực này. Khi đạt đủ quy mô, một doanh nghiệp Việt Nam mới có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia, bước chân vào chuỗi sản xuất toàn cầu để tiếp cận công nghệ và tiêu chuẩn quản trị hiện đại.
Thực tế từ chuỗi cung ứng của Samsung cho thấy rõ khoảng trống này. Tập đoàn này hiện diện tại Việt Nam từ năm 2008, nhưng đến năm 2014 mới chỉ có 4 doanh nghiệp nội địa đủ tiêu chuẩn trở thành nhà cung cấp cấp 1. Con số này tăng lên 29 vào năm 2017 cùng tỷ lệ nội địa hóa công bố đạt 57%. Phần lớn tỷ lệ nội địa hóa lại đến từ các nhà cung cấp FDI khác có nhà máy đặt tại Việt Nam, thay vì các doanh nghiệp nội địa. Yêu cầu để trở thành nhà cung cấp cấp 1 không chỉ dừng ở kỹ năng kỹ thuật, mà còn bắt buộc doanh nghiệp duy trì chất lượng ổn định trong dài hạn, có hệ thống kiểm soát chặt chẽ, đủ sức chịu đựng chu kỳ thanh toán dài và sở hữu đội ngũ quản lý chuyên nghiệp vận hành độc lập.
Điểm nghẽn từ khả năng tiếp cận tín dụng đến chi phí tuân thủ thủ tục
Khoảng trống ở tầng doanh nghiệp trung gian vẫn tồn tại dai dẳng qua nhiều năm bất chấp các chính sách thu hút dòng vốn nước ngoài và phát triển thị trường tài chính. Nhiều rào cản phát sinh trực tiếp từ cơ chế vận hành hiện hành. Hoạt động cấp tín dụng chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp, dẫn đến việc các doanh nghiệp thiếu bất động sản hoặc tài sản đảm bảo gặp muôn vàn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Dữ liệu thực tế cho thấy chỉ khoảng 30% đến 35% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được dòng vốn từ các ngân hàng thương mại.
Một giới hạn lớn khác xuất hiện trong quá trình các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp chính thức. Việc xóa bỏ thuế khoán từ đầu năm 2026 là minh chứng cụ thể cho nỗ lực minh bạch hóa hoạt động kinh doanh để xây dựng nền kinh tế hiện đại. Quá trình chuyển đổi này trực tiếp tạo ra áp lực lớn cho nhóm hộ kinh doanh vốn hạn chế về năng lực kế toán và ứng dụng công nghệ. Kết quả khảo sát do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện trong tháng 6/2025 chỉ ra có 73% hộ kinh doanh gặp vướng mắc vì thiếu kiến thức và kỹ năng công nghệ, 53% đánh giá thủ tục hành chính phức tạp và gần một nửa lo ngại về sự gia tăng của chi phí tuân thủ pháp luật.
Những thay đổi về thủ tục hành chính mang tính hai mặt, đòi hỏi thời gian kiểm chứng xem mức độ tác động sẽ thúc đẩy các đơn vị nhỏ bước vào khu vực kinh doanh chính thức hay sẽ làm phình to chi phí chuyển đổi. Nghị quyết 68 ban hành tháng 5/2025 xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế với mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Số lượng doanh nghiệp không đại diện cho toàn bộ sức khỏe của khu vực tư nhân, bởi một nền kinh tế sở hữu hai triệu doanh nghiệp siêu nhỏ chưa chắc tạo ra được một tầng doanh nghiệp trung gian vững chắc.
Kinh nghiệm quốc tế cung cấp những hệ quy chiếu rõ ràng về bài toán cấu trúc doanh nghiệp. Tại Ý, nền kinh tế có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng lại thiếu hụt tầng doanh nghiệp trung gian. Hàn Quốc lại đối mặt với khoảng cách năng suất quá lớn giữa nhóm doanh nghiệp nhỏ và các tập đoàn kinh tế khổng lồ. Việc lớn lên của một doanh nghiệp đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô nhân sự, gia tăng trách nhiệm, nâng cấp hệ thống quản trị và gánh vác thêm nhiều chi phí vận hành. Chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng nền kinh tế trong các năm tới chính là khả năng duy trì hoạt động và mở rộng quy mô của khối doanh nghiệp vừa, thay vì chỉ tập trung vào tốc độ gia tăng số lượng các pháp nhân thành lập mới.