Tin90p.com - Luật hóa cơ chế quản lý mã số vùng trồng để giữ uy tín nông sản xuất khẩu

Đăng lúc: 2026-05-16 14:02:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 1 | Chuyên mục: Pháp luật

Ảnh minh họa

Nghị định 38/2026/NĐ-CP được xem là bước hoàn thiện thể chế quan trọng nhằm siết chặt quản lý, nâng cao tính minh bạch và duy trì bền vững hệ thống mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam.

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, các mã số này hiện không còn đơn thuần là thủ tục hành chính phục vụ xuất khẩu, mà đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng, uy tín và năng lực quản trị chuỗi sản xuất.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 5/2026, cả nước có 9.546 MSVT và 1.525 CSĐG phục vụ xuất khẩu; riêng thị trường Trung Quốc đã phê duyệt 4.323 MSVT và 1.332 CSĐG.

Tuy nhiên, cùng với tốc độ gia tăng số lượng là áp lực quản lý ngày càng lớn khi từ năm 2025 đến nay, phía Trung Quốc đã cảnh báo 403 MSVT và 240 CSĐG vi phạm quy định, trong đó có 167 MSVT và 99 CSĐG bị tạm dừng hoặc thu hồi.

Thực trạng này đòi hỏi toàn ngành phải thay đổi mạnh mẽ, chuyển từ tư duy chạy theo số lượng sang quản lý thực chất.

Tại Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP tổ chức ngày 14/5 tại TP HCM, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển mạnh từ tư duy “cấp nhiều mã số” sang “duy trì mã số thực chất và bền vững”.

Để giải quyết tình trạng một số địa phương mới chỉ chú trọng cấp mã mà chưa quan tâm đúng mức đến hậu kiểm, khiến việc ghi chép nhật ký sản xuất hay kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nơi còn mang tính đối phó, Nghị định 38/2026/NĐ-CP lần đầu tiên quy định đầy đủ về cơ chế tạm dừng, phục hồi và thu hồi mã số với quy trình, thời hạn và biểu mẫu xử lý cụ thể.

Hành lang pháp lý rõ ràng này không chỉ nâng cao tính minh bạch, kỷ cương mà còn đặt trách nhiệm duy trì điều kiện kỹ thuật, phối hợp giám sát trực tiếp lên các tổ chức, cá nhân được cấp mã. Đây được các chuyên gia đánh giá là bước chuyển quan trọng từ quản lý hành chính sang quản trị chuỗi sản xuất xuất khẩu.

Một điểm nhấn quan trọng khác của Nghị định 38/2026/NĐ-CP là hoàn thiện và luật hóa cơ chế phân cấp quản lý MSVT và CSĐG cho địa phương.

Trước đây, việc phân cấp chủ yếu thực hiện theo các hướng dẫn hành chính chuyên ngành, nay đã được chuẩn hóa và minh bạch hóa ở cấp nghị định của Chính phủ, quy định rõ trách nhiệm của từng cấp từ khâu tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra đến giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò xây dựng thể chế, đàm phán quốc tế và xây dựng cơ sở dữ liệu, còn UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức triển khai, bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí trên địa bàn.

Việc xác định địa phương là tuyến đầu có ý nghĩa quyết định, bởi cơ quan Trung ương không thể giám sát từng vùng trồng hay từng cơ sở đóng gói; nếu cấp cơ sở buông lỏng hậu kiểm để xảy ra tình trạng cho thuê, mượn hoặc sử dụng sai mã số thì nguy cơ bị thị trường quốc tế siết kiểm tra hoặc dừng nhập khẩu là rất lớn.

Hướng tới một nền sản xuất minh bạch và có trách nhiệm, Nghị định 38/2026/NĐ-CP cũng thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về MSVT và CSĐG.

Thời gian tới, toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa đến giám sát, cảnh báo vi phạm sẽ từng bước được số hóa và liên thông dữ liệu giữa Trung ương với địa phương, đáp ứng xu hướng truy xuất điện tử của thương mại nông sản toàn cầu.

Có thể thấy, Nghị định 38/2026/NĐ-CP không chỉ là văn bản quản lý kỹ thuật thuần túy, mà là nền tảng hoàn thiện thể chế để xây dựng nền nông nghiệp xuất khẩu chuyên nghiệp, minh bạch và phát triển bền vững, trong đó sự chủ động và nghiêm túc của các địa phương chính là mắt xích quyết định để giữ vững năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Theo phapluatplus.baophapluat.vn