Xuất khẩu tăng, dư địa còn lớn
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%. Nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tới 90,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp tục là nhóm hàng chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt trong các chuỗi sản xuất và cung ứng vẫn chủ yếu đảm nhận những khâu có giá trị gia tăng chưa cao. Theo bà Bùi Thị Ninh - Phó Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh khu vực TP Hồ Chí Minh (VCCI-HCM), trong một số lĩnh vực chế tạo, điện tử, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu lắp ráp hoặc cung ứng linh kiện, phụ tùng đơn giản, trong khi những công đoạn có giá trị gia tăng cao do doanh nghiệp FDI và các tập đoàn đa quốc gia đảm nhiệm.
Thực tế này cho thấy dư địa nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước còn lớn, nhất là khi các chuỗi sản xuất và cung ứng quốc tế đang đặt ra những yêu cầu cao hơn về công nghệ, chất lượng và khả năng phát triển sản phẩm.
Ở góc độ doanh nghiệp, việc mở rộng thị trường quốc tế không chỉ tạo thêm đầu ra mà còn mở ra cơ hội tiếp cận những nhóm khách hàng và yêu cầu mới, qua đó thúc đẩy quá trình nâng năng lực sản xuất và phát triển sản phẩm. Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sao Kim cho rằng, một sản phẩm tốt chưa phải điều kiện đủ để tạo lợi thế trên thị trường. Doanh nghiệp cần hiểu khách hàng, xác định đúng nhu cầu và làm rõ giá trị mà sản phẩm mang lại. Theo ông Tuấn, quá trình tiếp cận các thị trường quốc tế cũng giúp doanh nghiệp nhận diện rõ hơn nhu cầu mới, từ đó từng bước nâng giá trị sản phẩm và mở rộng vai trò trong chuỗi cung ứng.
Nâng cao năng lực, gia tăng giá trị
Khi mở rộng hoạt động tại các thị trường quốc tế, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở giá bán mà bao gồm chất lượng, nguồn gốc, môi trường, khả năng truy xuất và năng lực đáp ứng. Theo ông Nguyễn Thanh Tuấn, lợi thế về giá có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng, nhưng để duy trì quan hệ và nâng vai trò trong chuỗi, doanh nghiệp cần tạo ra những giá trị khác biệt. Đó có thể là chất lượng ổn định, khả năng phát triển sản phẩm theo yêu cầu, đáp ứng tiêu chuẩn riêng của từng thị trường, rút ngắn thời gian giao hàng hoặc làm chủ những công đoạn đòi hỏi kỹ thuật cao.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sao Kim (Ảnh: NVCC)Từ yêu cầu của từng khách hàng và thị trường, doanh nghiệp có thể điều chỉnh quy cách, sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế, thay vì chủ yếu sản xuất theo những yêu cầu có sẵn. Đây cũng là quá trình chuyển từ việc đơn thuần nhận đơn hàng sang chủ động trong phát triển sản phẩm và giải pháp. “Năng lực sản xuất giúp doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, nhưng thương hiệu quyết định doanh nghiệp có thể giữ lại bao nhiêu giá trị và có tiếng nói lớn đến đâu trong chuỗi đó” - ông Tuấn cho biết.
Tăng đơn hàng mới chỉ phản ánh một phần năng lực sản xuất, trong khi khả năng tạo giá trị còn phụ thuộc vào phạm vi công việc doanh nghiệp đảm nhận trong quá trình hình thành sản phẩm. Bên cạnh tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp có thể mở rộng sang các khâu nghiên cứu nhu cầu, hoàn thiện sản phẩm và phát triển giải pháp phù hợp với từng nhóm khách hàng. Việc đảm nhận những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao không chỉ nâng phần giá trị doanh nghiệp tạo ra mà còn tăng mức độ chủ động trong quan hệ với khách hàng và đối tác.
Doanh nghiệp cũng không nhất thiết phải thay đổi đồng thời ở tất cả các khâu. Theo ông Tuấn, doanh nghiệp cần xác định những công đoạn có khả năng tạo khác biệt và phù hợp với năng lực cốt lõi để tập trung nguồn lực. Khi làm chủ được một khâu có giá trị và đáp ứng ổn định yêu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để mở rộng phần việc đảm nhận.
Ông Tuấn nhấn mạnh, liên kết với các tập đoàn và nhà mua hàng lớn đang đặt cơ sở sản xuất tại Việt Nam là một hướng để doanh nghiệp cải thiện năng lực. Việc đáp ứng các yêu cầu cao hơn về chất lượng, công nghệ, quản trị và tiến độ vừa tạo áp lực, vừa giúp doanh nghiệp trong nước tiếp cận những chuẩn mực mới và cải thiện khả năng cung ứng.
Không chỉ ở đầu ra, dư địa nâng cao vai trò trong chuỗi giá trị còn nằm ở các khâu cung ứng đầu vào cho sản xuất. Trong 8 tháng năm 2026, nhập khẩu hàng hóa đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%; trong đó, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 94,1%. Quy mô nhập khẩu tư liệu sản xuất lớn cho thấy hoạt động sản xuất trong nước vẫn sử dụng lượng đáng kể máy móc, nguyên liệu và các đầu vào từ bên ngoài. Đây cũng là dư địa để doanh nghiệp trong nước mở rộng cung ứng nếu đáp ứng được yêu cầu về công nghệ, chất lượng, tiến độ và quy mô.
Để tận dụng tốt dư địa từ thị trường quốc tế, doanh nghiệp cần tiếp tục nâng khả năng tạo ra giá trị trong quá trình sản xuất và cung ứng. Khi đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội mở rộng phần việc đảm nhận và từng bước nâng vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu.