Cựu Cục trưởng An toàn thực phẩm Nguyễn Thanh Phong khai nhận hơn 43 tỷ đồng
Tại phiên tòa sơ thẩm chiều 5/1, cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Nguyễn Thanh Phong thừa nhận đã nhận hơn 43 tỷ đồng từ doanh nghiệp trong quá trình cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và chứng nhận GMP, khẳng định cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội và bày tỏ sự ăn năn, hối cải trước HĐXX.
Chiều 5/1, phiên tòa sơ thẩm xét xử cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (ATTP) Nguyễn Thanh Phong cùng 54 bị cáo trong vụ án “Đưa hối lộ, Nhận hối lộ” xảy ra tại Cục ATTP (Bộ Y tế) và các doanh nghiệp liên quan trên địa bàn TP Hà Nội và nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã hoàn tất phần thủ tục và chuyển sang giai đoạn xét hỏi.
Bị cáo Nguyễn Thanh Phong, nguyên Cục trưởng Cục ATTP, là người đầu tiên được HĐXX thẩm vấn. Trình bày trước tòa, ông Phong khai nhận giữ chức Cục trưởng Cục ATTP từ ngày 1/1/2015 cho đến tháng 8/2024.
Bị cáo Nguyễn Thanh Phong cho biết, ngày 2/2/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 15 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.
Nghị định yêu cầu các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe, phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, hoặc phụ gia chưa có trong danh mục cho phép, phải đăng ký bản công bố sản phẩm tại Bộ Y tế.
![]() |
| Cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Nguyễn Thanh Phong tại phiên tòa. |
Theo cựu Cục trưởng Cục ATTP, Nghị định 15 có nhiều nội dung mới, đặc biệt là các yêu cầu chặt chẽ liên quan đến tài liệu khoa học chứng minh công dụng, liều dùng của sản phẩm, khiến không ít doanh nghiệp và cá nhân gặp khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ.
Sau khi Nghị định 15 có hiệu lực, Phòng Quản lý sản phẩm thực phẩm đơn được giao làm đầu mối tiếp nhận và thẩm định hồ sơ, tham mưu lãnh đạo Cục ATTP cấp giấy tiếp nhận bản công bố. Tuy nhiên, do số lượng hồ sơ tăng đột biến, tình trạng quá tải đã xảy ra.
Bị cáo Phong khai rằng, phần lớn hồ sơ tồn đọng thuộc về các doanh nghiệp nhỏ, không có bộ phận pháp chế chuyên trách nên không đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu mới.
Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn vẫn có thể tự hoàn thiện hồ sơ và được cấp giấy tiếp nhận theo quy định.
Ông Phong cũng cho biết bản thân nhận được nhiều phản ánh qua điện thoại, tin nhắn về việc hồ sơ bị quá hạn nhưng không rõ nguyên nhân, số lượng hồ sơ tồn đọng ngày càng nhiều.
Chủ tọa phiên tòa đặt câu hỏi về việc ai là người đưa ra chủ trương nhận tiền của doanh nghiệp để cấp giấy tiếp nhận hồ sơ?
Bị cáo Phong cho rằng cấp dưới có báo cáo hai trường hợp, một là doanh nghiệp tự hoàn thiện hồ sơ đúng quy định; hai là doanh nghiệp được hướng dẫn nhưng vẫn không thể hoàn tất.
Khi chủ tọa tiếp tục truy vấn việc đề xuất đưa tiền xuất phát từ phía Cục hay từ doanh nghiệp, bị cáo Nguyễn Thanh Phong khai rằng doanh nghiệp là bên chủ động đưa tiền.
Liên quan đến mức tiền nhận trên mỗi bộ hồ sơ, cựu Cục trưởng Cục ATTP khai không có mức ấn định chung mà tùy từng phòng ban.
Có phòng chuyển cho bị cáo 2,5 triệu đồng/hồ sơ, có phòng chỉ đưa 1,5 triệu đồng/hồ sơ. Riêng những hồ sơ do bị cáo trực tiếp ký, ông nhận 2,5 triệu đồng/bộ; các hồ sơ không trực tiếp ký thì nhận từ 1 đến 1,5 triệu đồng/bộ.
Chủ tọa phiên tòa đặt vấn đề, nếu bị cáo không đồng ý thì liệu cấp dưới có dám thu tiền của doanh nghiệp hay không. Bị cáo Nguyễn Thanh Phong thừa nhận rằng, nếu không có sự đồng ý của mình thì nhân viên, cấp dưới không dám thực hiện việc này.
Ngoài ra, bị cáo Phong cũng khai nhận có nhận quà cảm ơn của doanh nghiệp liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận GMP.
Tổng số tiền bị cáo đã nhận lên tới hơn 43 tỷ đồng, chủ yếu nhận ngay tại phòng làm việc. Bị cáo cho biết đã ký gần 20.000 bộ hồ sơ và được nhân viên báo cáo rõ những hồ sơ nào có tiền, hồ sơ nào không.
Theo lời khai, số tiền này bị cáo sử dụng cho các chi tiêu cá nhân và gia đình, hỗ trợ người thân, giúp đỡ anh em, đồng nghiệp và các trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, cũng như phục vụ một số hoạt động tập thể của Cục như tổ chức giải thể thao.
Trước HĐXX, bị cáo Nguyễn Thanh Phong thừa nhận cáo trạng của VKS truy tố là đúng người, đúng tội. Bị cáo cho rằng tại thời điểm thực hiện hành vi, nhận thức pháp luật của mình còn hạn chế.
Sau khi bị khởi tố và làm việc với cơ quan chức năng, bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm, bày tỏ sự ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra.
