Không “bỏ IELTS”, chỉ bỏ điểm cộng
Những ngày qua, đề xuất không cho các trường tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ ngoại ngữ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung trong tuyển sinh đại học nhận được sự quan tâm lớn từ phụ huynh, học sinh, đặc biệt là những học sinh lớp 12 dự kiến tham gia kỳ tuyển sinh năm 2027.
Theo dự thảo Thông tư sửa đổi quy chế tuyển sinh đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&DT) lấy ý kiến, từ năm 2027, các cơ sở đào tạo không được tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung. Điểm ưu tiên khu vực, đối tượng chính sách vẫn được giữ theo quy định.
Cùng với đó, mỗi ngành, chương trình đào tạo dự kiến được sử dụng tối đa 3 phương thức xét tuyển từ năm 2027 và tiếp tục giảm, dự kiến còn 1 phương thức từ năm 2028. Thời gian lấy ý kiến dự thảo kéo dài đến ngày 23/9.
Một trong những cách hiểu đang được quan tâm là liệu việc không còn cơ chế điểm cộng có đồng nghĩa với việc chứng chỉ ngoại ngữ, trong đó có IELTS, không còn giá trị trong tuyển sinh đại học.
Theo Bộ GD&ĐT, cách hiểu này không chính xác. Dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh và cũng không phủ nhận thành tích học sinh giỏi. Nội dung thay đổi là việc các trường tự cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.
Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.
Thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng điều kiện của quy chế. Xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức của mỗi ngành từ năm 2027.
Theo Bộ, nguyên tắc được đặt ra là một năng lực phải được đánh giá đúng vị trí, ghi nhận một lần và theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành.
Nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, cơ sở đào tạo phải đưa ngoại ngữ thành một hợp phần chính thức của phương thức xét tuyển. Thí sinh có thể sử dụng điểm thi hoặc chứng chỉ được quy đổi tương đương.
Ngược lại, nếu ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng thêm điểm, một tiêu chí không thuộc yêu cầu đầu vào sẽ được đưa vào để thay đổi thứ tự xét tuyển.
Bất cập cũng xuất hiện khi tổ hợp xét tuyển đã có môn tiếng Anh nhưng thí sinh tiếp tục được cộng điểm nhờ chứng chỉ tiếng Anh. Khi đó, cùng một năng lực ngoại ngữ có thể được ghi nhận hai lần: một lần trong điểm tổ hợp và một lần dưới dạng điểm cộng.
37.300 thí sinh được cộng điểm chứng chỉ, vì sao phải rà soát?
Theo Bộ GD&ĐT, việc rà soát cơ chế điểm cộng không phải là thay đổi đột ngột mà nằm trong lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa tuyển sinh.
Từ năm 2023, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu quy đổi tương đương giữa các phương thức nhằm giảm chênh lệch. Đến năm 2026, điểm cộng tối đa được khống chế ở mức 10% tổng điểm xét tuyển. Tuy nhiên, khi mỗi trường tự quy đổi và tự xác định điểm cộng, sự khác biệt giữa các cơ sở đào tạo vẫn còn lớn.
Theo Bộ GD&ĐT, dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.
Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, có ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; trong khi tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%.
Đáng chú ý, trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.
Những số liệu này không xác định được từng cặp thí sinh cụ thể bị thay thế trong tuyển sinh. Tuy nhiên, chúng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tại những ngành có tính cạnh tranh cao.
Vấn đề được đặt ra ở đây là công bằng trong tuyển sinh. Công bằng không có nghĩa chia đều mọi lợi thế, mà là những thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành cần được đánh giá theo cùng tiêu chí.
Bộ GD&ĐT lý giải, có trường hợp ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Khi đó, một thí sinh có kết quả ba môn chuyên môn cao hơn vẫn có thể đứng sau thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng thêm điểm chứng chỉ.
Ở trường hợp khác, tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng điểm. Năng lực ngoại ngữ khi đó vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo. Với những ngành có điểm chuẩn cao, chỉ một phần nhỏ điểm số cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả xét tuyển.
Các em thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT tại điểm thi Trường THPT A Thanh Liêm, tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: MOET)Siết điểm cộng, chuẩn hóa cách đánh giá năng lực
Việc điều chỉnh cơ chế điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ được đặt trong tổng thể đổi mới tuyển sinh đại học. Bộ GD&ĐT đồng thời đề cập các giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu và đối sánh chéo để phát hiện dấu hiệu bất thường; tiếp tục cải tiến khâu ra đề nhằm đánh giá kiến thức, năng lực của học sinh sau THPT.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT không chỉ phục vụ xét tốt nghiệp mà còn đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các địa phương, tác động của chương trình, nội dung giáo dục và phương pháp giảng dạy, đồng thời cung cấp một phần căn cứ cho tuyển sinh đại học.
Bộ cũng cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách trên cơ sở lắng nghe ý kiến các bên và làm việc với chuyên gia, hướng tới đánh giá thực chất năng lực người học. Các giải pháp được đề cập gồm giữ ổn định mô hình thi và phương thức tuyển sinh, tăng cường công nghệ, phân tích dữ liệu, đối sánh chéo để siết chặt kỷ luật phòng thi, hạn chế gian lận; đồng thời từng bước chuẩn hóa, siết chặt các phương thức xét tuyển sớm và việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ.
Như vậy, đề xuất không cho các trường tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ ngoại ngữ không đồng nghĩa với việc “bỏ IELTS” hay phủ nhận giá trị của ngoại ngữ. Trọng tâm của thay đổi là cách thức ghi nhận năng lực.
Năng lực nào cần cho ngành học thì phải được đưa vào tiêu chí chính thức và đánh giá trực tiếp. Năng lực nào không thuộc yêu cầu đầu vào thì không nên trở thành điểm cộng làm thay đổi thứ tự xét tuyển. Thành tích học sinh giỏi tiếp tục được ghi nhận theo cơ chế phù hợp; chứng chỉ ngoại ngữ tiếp tục được sử dụng trong những trường hợp ngành học có yêu cầu.
Từ góc độ đó, bài toán của tuyển sinh đại học không chỉ là có bao nhiêu phương thức xét tuyển, có bao nhiêu điểm cộng, mà quan trọng hơn là mỗi thí sinh có được đánh giá đúng với năng lực mà ngành đào tạo thực sự cần hay không.
Đưa các năng lực về đúng vị trí, hạn chế việc một năng lực được tính nhiều lần và tạo một thước đo minh bạch giữa các thí sinh là hướng mà dự thảo quy chế đang đặt ra. Mục tiêu cuối cùng là tuyển đúng người học cho đúng ngành học, trên cơ sở năng lực thực chất và một quy trình có thể kiểm chứng.
Về điều chỉnh quy chế tuyển sinh đại học, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn chia sẻ, quan điểm của Bộ là những chính sách lớn cần được giữ ổn định; công tác tuyển sinh phải bảo đảm nguyên tắc: tin cậy, đánh giá đúng năng lực người học và công bằng.
Thực hiện Luật Giáo dục đại học, các trường được trao quyền tự chủ trong xác định phương thức tuyển sinh. Bộ tôn trọng quyền tự chủ này nhưng vẫn phải đặt ra các hàng rào kỹ thuật chung để bảo đảm công bằng, độ tin cậy và đánh giá đúng năng lực người học.
Hiện các trường sử dụng nhiều phương thức tuyển sinh, Bộ thống kê và phân loại thành khoảng 20 nhóm. Tuy nhiên, về cơ bản vẫn tập trung vào một số phương thức chính như xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ, xét kết quả các kỳ thi đánh giá năng lực, kết hợp kết quả thi tốt nghiệp THPT với các phương thức khác, sử dụng chứng chỉ quốc tế…
Bộ trưởng cho rằng, với một ngành hoặc chương trình đào tạo, khi lựa chọn thí sinh cần có tiêu chí đánh giá thống nhất. Khi đã xác định yêu cầu về năng lực, kiến thức của người học, phương thức tuyển sinh về nguyên tắc cũng phải bảo đảm tính nhất quán. Nếu một trường sử dụng nhiều phương thức thì điểm chuẩn đầu vào giữa các phương thức phải bảo đảm mức độ tương đương.
Trên cơ sở phân tích dữ liệu tuyển sinh nhiều năm và kết quả học tập của học sinh, Bộ GD&ĐT cho rằng cần có lộ trình giảm số lượng phương thức tuyển sinh. Mục tiêu là với mỗi ngành, chương trình đào tạo, khi đã xác định được năng lực cần đánh giá và phương thức phù hợp nhất thì tiến tới sử dụng một phương thức phù hợp. Theo lộ trình, dự kiến từ năm 2027, mỗi ngành, chương trình được áp dụng tối đa 3 phương thức và đến năm 2028 còn 1 phương thức.
Về việc cộng điểm chứng chỉ, trong đó có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế như IELTS, và cộng điểm học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, Bộ trưởng cho biết các điều chỉnh của Bộ được đưa ra trên cơ sở phân tích dữ liệu.
Theo đó, nếu một ngành, một trường yêu cầu năng lực tiếng Anh đầu vào thì Bộ yêu cầu đưa tiếng Anh vào tổ hợp xét tuyển, coi đây là một tiêu chí xét tuyển chính thức. Trường hợp này, các chứng chỉ tiếng Anh vẫn có thể được quy đổi thành điểm để xét tuyển. Nhưng nếu cộng thêm thì một kiến thức được tính hai lần. Ngược lại, nếu tổ hợp xét tuyển không yêu cầu tiếng Anh nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh lại được cộng thêm điểm thì có thể tạo bất lợi cho những thí sinh khác.
Thực tế, có những ngành có điểm chuẩn lên tới 28 điểm nhưng cho phép cộng chênh lệch tới 1,5 điểm. Trong khoảng điểm từ 26,5 đến 28, có thể có hàng nghìn thí sinh không trúng tuyển dù có năng lực tiếng Anh nhưng không có điều kiện tham gia các kỳ thi chứng chỉ có chi phí cao.
Theo Bộ trưởng, việc học tiếng Anh vẫn có giá trị đối với quá trình học tập ở đại học và năng lực nghề nghiệp sau này. Việc không còn cơ chế cộng điểm chứng chỉ không đồng nghĩa với việc năng lực tiếng Anh không được sử dụng trong tuyển sinh; các chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi thành điểm ở những trường, ngành có yêu cầu.
Bộ sẽ tiếp tục lắng nghe ý kiến của các bên và làm việc với chuyên gia để tiếp tục hoàn thiện chính sách, với mục tiêu đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng giữa các thí sinh.
Bộ GD&ĐT đã phân tích nguyên nhân và đề ra các giải pháp: giữ ổn định mô hình thi và phương thức tuyển sinh; tăng cường ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu và đối sánh chéo để siết chặt kỷ luật phòng thi, triệt tiêu động cơ gian lận. Đồng thời, từng bước chuẩn hóa, siết chặt các phương thức xét tuyển sớm, việc lạm dụng các chứng chỉ ngoại ngữ gây mất công bằng xã hội; bảo đảm việc đánh giá thực chất năng lực của người học theo đúng tinh thần Nghị quyết 71.