Tin90p.com - VĂN HOÁ PHẬT GIÁO KIM CƯƠNG THỪA VIỆT NAM
Đăng lúc: 2026-05-25 13:22:00
|
Bởi: admin
|
Lượt xem: 17
|
Chuyên mục: Tinh hoa nghề Việt
Kim Cương thừa là một tông phái của Phật giáo, một pháp môn đưa giáo lý Giải thoát Phật giáo đến với chúng sinh, một phương tiện đi đến mục đích “Khai thị chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật”. Phật giáo Kim Cương thừa truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, điển hình là theo thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào Việt Nam và nhiều các nhà truyền giáo khác. Khác với một số quốc gia khác, Kim Cương thừa ở Việt Nam không thật sự tồn tại độc lập với vai trò một hệ phái riêng độc lập mà luôn hoà nhập cùng các truyền thống Phật giáo khác, tạo nên kiềng ba chân Thiền - Tịnh - Mật, đây cũng là một điểm đặc biệt của Phật giáo Việt Nam. Văn hoá Phật giáo Kim Cương thừa còn lưu dấu ở nhiều ngôi chùa trên khắp cả nước, trong đó có những ngôi chùa cổ, có vị thế quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, thể hiện trong hệ thống giá trị vật thể: kiến trúc cơ sở thờ tự, hệ thống tượng thờ,… và trong các nghi lễ, sinh hoạt Phật giáo. Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam có xu hướng phục hồi và phát triển nhiều trung tâm Kim Cương thừa đậm đặc, góp phần làm sắc nét các giá trị văn hoá Phật giáo Việt Nam.
Kim Cương thừa hay còn gọi là Mật thừa (Mật tông) là một tông phái của Phật giáo, vốn khởi nguồn từ đức Phật Thích Ca, được trao truyền, truyền thừa qua nhiều thế hệ đến ngày nay. Lịch sử truyền giáo, Kim Cương thừa được truyền bá từ cái nôi Phật giáo Ấn Độ sang Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Việt Nam… Kim Cương thừa là giai đoạn phát triển thứ ba của tư tưởng Đại thừa Phật giáo. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tác giả Nguyễn Lang viết về Mật giáo: “Mật giáo là giai đoạn phát triển thứ ba của tư tưởng Phật giáo đại thừa ở Ấn Độ (giai đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ hai là Duy Thức). Giai đoạn này bắt đầu từ thế kỷ thứ tư, trở nên hưng thịnh từ đầu thế kỷ thứ sáu, đến giữa thế kỷ thứ tám thì được hệ thống hoá trong một truyền thống gọi là Kim Cương thừa (Varayãna)”[1]. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, Kim cương thừa vốn truyền vào Việt Nam từ khá sớm. Theo Thiền Uyển Tập Anh, vào thế kỷ thứ VI (năm 580), ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Ấn Độ, đã đến Việt Nam, tu tại chùa Pháp Vân và dịch kinh Đại thừa phương quảng tổng trì. Đây là một bộ kinh của Mật giáo và liên hệ rất nhiều đến Thiền: “Kinh Tổng trì của Mật giáo đã được dùng cho nhiều thiền giáo ngay từ buổi khởi đầu của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Tỳ Ni Đa Lưu Chi rời Ấn Độ vào khoảng hạ bán thế kỷ thứ sáu và đã thừa kế tinh thần Mật Giáo: ông đã đem theo với ông ít nhất là một cuốn kinh Mật giáo bằng Phạn ngữ”[2]. Vào thời Đinh và Tiền Lê, Mật tông đã khá thịnh hành tại Việt Nam. Những trụ đá được phát hiện tại Hoa Lư, Ninh Bình vào các năm 1963, 1964, 1978 như: dựng vào năm 973, thời Đinh; dựng năm 995, thời Lê Đại Hành…Các trụ đều khắc bản kinh Phật đỉnh Tôn thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), một bản kinh rất phổ biến của Mật giáo, đã chứng minh cho điều đó. Tuy nhiên cần lưu ý ở Việt Nam, Mật tông không phát triển thành một truyền thống độc lập mà dung hoà cùng Thiền tông, các yếu tố Mật tông tồn tại pha trộn cùng Thiền tông. Dĩ nhiên Mật tông thịnh hành tại nước ta không chỉ do mỗi ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, mà còn từ Phật giáo Chiêm Thành, những Tăng sĩ ngoại quốc và những vị sư Việt Nam thọ học từ Ấn Độ. Tuy nhiên trong các phái thiền phổ biến ở Việt Nam thời Lý, thì Tỳ Ni Đa Lưu Chi thể hiện yếu tố Mật giáo đậm đặc nhất. Sau thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, các thiền sư của phái này thường xuyên tụng niệm những lời chú Đalani, mang tính chất Mật tông. ngài Mahamaya, gốc Chiêm Thành, thuộc đời thứ 10 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, từng theo học với ngài Pháp Thuận và trì tụng chú Đại bi, cũng rất nổi tiếng về pháp thuật. Thiền uyển tập anh cho rằng ông đắc pháp Tổng trì Tam muội, thi triển nhiều pháp thuật khiến cho vua Lê Đại Hành và dân chúng đều nể phục. Sư Vạn Hạnh (thế hệ thứ 12 của thiền phái), hàng ngày tụng kinh Đại bi tâm Đàlani 108.000 lần. Không chỉ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, các thiền phái khác ở Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của Mật giáo. Ví như thiền phái Vô Ngôn Thông, dấu ấn của Mật tông cũng được thể hiện khá rõ, điển hình qua các vị thiền sư Không Lộ, Giác Hải và Nguyện Học. Thiền sư Không Lộ từng cùng với các sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh qua Thiên Trúc học Mật giáo, chứng đắc “lục trí thần thông” … “Mật giáo thịnh hành tại Việt Nam từ những thế kỷ thứ bảy và thứ tám; tuy thiền phái Vô Ngôn Thông cố sức tự bảo vệ không để Mật Giáo thâm nhập (Thông Biện rất chống Đại Điên và Bát Nhã) nhưng vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng của giáo lý này. Sự kiện cho ta thấy tầm quan trọng của Mật giáo ở Việt Nam từ ngày Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Việt Nam qua Đinh, Tiền Lê cho đến cuối Lý”[3]. Ngay cả thiền phái Trúc Lâm thời Trần, thiền phái lớn, phát triển lớn mạnh cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của Mật tông. Điều đó thể hiện: “Thiền sư Huyền Quang chế tạo đài Cửu Phẩm Liên Hoa có thể xoay vòng trong khi niệm Phật và trì chú”. Thượng hoàng Anh Tông, Văn Huệ Vương… và nhiều người khác đã được thiền sư Pháp Loa làm lễ quản đỉnh, một nghi lễ Mật giáo[4]. Ngài Pháp Loa (Nhị tổ thiền phái Trúc Lâm) cũng dành nhiều thì giờ cho việc trì chú. Ngài cũng phân tích và chú thích một kinh văn có khuynh hướng Mật tông là Kim Cương trường Đà la ni khoa chú. Từ sự phân tích trên cho thấy, Kim Cường thừa du nhập vào Việt Nam khá sớm, ảnh hưởng đậm nét đến sinh hoạt Phật giáo Việt Nam các thời kỳ, ở thời kỳ Lý - Trần, Thiền tông phát triển rực rỡ, yếu tố Mật tông vẫn là một thành tố. Các thời kỳ sau, Mật tông tiếp tục khẳng định được chỗ đứng: Nhiều thiền phái ở Trung Hoa như Lâm Tế, Tào Động du nhập vào Việt Nam và phát triển mạnh mẽ. Mật tông vẫn tiếp tục ảnh hưởng: Sự xuất hiện nhiều của một loạt dạng chùa “tiền Phật hậu Thánh” thời kỳ này cũng phản ánh tâm thức dân dã khi có sự dung hoà giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian, đồng thời khẳng định một dạng kiến trúc mang màu sắc riêng biệt của Mật tông ở Việt Nam. Một dạng khác của kiến trúc Mật tông trong chùa Việt Đàng Ngoài là tháp quay Cửu Phẩm Liên Hoa. Trong thế kỷ XVII, nhà sư Chân Nguyên đã cho dựng đến ba cây Cửu Phẩm Liên Hoa, một cây đặt ở chùa Quỳnh Lâm năm 1684, một cây đặt ở chùa Yên Tử năm 1687, một cây đặt ở chùa Phẩm năm 1692. Lối tu Mật tông hoà vào với tín ngưỡng dân gian để tồn tại và duy trì sự tồn tại bền vững. Một đặc điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam là sự dung hoà các truyền thống Phật giáo trong đường lối tu hành. Phật giáo Việt Nam đặc trưng trong đường lối tu hằng ngày là thường bao gồm cả Thiền - Tịnh - Mật (Thiền - Tịnh - Mật đồng tu). Tinh thần đó vẫn được duy trì cho đến ngày nay.
Chùa Thầy (Hà Nội): Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy nên ngôi chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa bao gồm những ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn được xây dựng từ thời nhà Lý. Ban đầu chùa Thầy vốn là một am nhỏ tên là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Các ghi chép cũng cho thấy Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã có công dựng lập am Hương Hải và viện Bồ Đà (sau này là chùa Thiên Phúc). Chiếc chuông lớn tại chùa Thiên Phúc, đúc năm 1109 bởi đệ tử Huệ Hưng, có khắc văn ghi lại công đức hoằng pháp của sư. Văn khắc này cũng phù hợp với các ghi chép về khả năng cảm hóa chim thú, cầu mưa chữa bệnh của Thiền sư. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại thành hai cụm chùa: chùa Cao trên núi và chùa Dưới, tức là chùa Cả, gọi là Thiên Phúc Tự. Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc tu bổ, xây dựng điện Phật, điện Thánh; tiếp theo đó là nhà Tổ, nhà bia, giảng đường. Đây từng là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phật Tích. Là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất Hà Nội, nếu như Chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời Từ Đạo Hạnh, thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12 thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này. Một trong những tư liệu lịch sử quan trọng liên quan đến chùa Thầy là minh văn trên chuông đồng thời Lý. Quả chuông này, theo sử sách ghi lại, được Thiền sư Từ Đạo Hạnh cho đúc vào năm 1109, với bài minh văn do Thích Huệ Hưng soạn. Mặc dù quả chuông thời Lý đã bị mất, nhưng may mắn thay, minh văn đã được sưu tầm và lưu giữ trong cuốn “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam”. Trước khi có tư liệu minh chuông, có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm xây dựng chùa. Một số ý kiến cho rằng chùa được khởi dựng vào thời Lý Nhân Tông (1072-1127), trong khi một số khác lại cho rằng chùa có từ thời Lý Thánh Tông (1057) hoặc thậm chí sớm hơn tuy nhiên, tư liệu minh chuông đúc năm 1109 đã cung cấp thêm bằng chứng để khẳng định rằng chùa Thầy được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 11, dưới triều Lý Nhân Tông. “Sự hình thành của một loạt chùa “tiền Phật hậu Thánh” thế kỷ XVII, trong đó chùa Thầy là tiêu biểu thể hiện nhu cầu, niềm tin tôn giáo của người dân đặt cả vào những thiền sư Mật tông trong bối cảnh xã hội đương thời. Trong số các thiền sư đó, Từ Đạo Hạnh là nhân vật tiêu biểu có ảnh hưởng lớn đến vùng Quốc Oai, Hà Nội. Với màu sắc huyền bí của lối tu Mật tông cùng những huyền tích của Từ Đạo Hạnh đã tạo nên những sắc thái riêng biệt cho kiến trúc cũng như nghệ thuật tổ chức không gian chùa Thầy”[5]. Chùa Thầy được thiết kế theo lối xây dựng kiểu “tiền Phật hậu Thánh”, chữ Tam với ba chùa đặt liền kề nhau trên nền cao. Đây là một mô hình kiến trúc chùa Mật tông độc đáo của Việt Nam, và chùa Thầy là một trong những ngôi chùa tiêu biểu cho kiểu kiến trúc này. Cấu trúc này giúp du khách hiểu hơn về sự đa dạng trong tín ngưỡng Việt Nam, nơi Phật giáo hòa quyện với tín ngưỡng thờ cúng các vị Thánh nhân, anh hùng dân tộc. Đây là một điểm nhấn văn hóa đặc sắc, thể hiện sự bao dung và tiếp biến của văn hóa Việt. Kiểu chùa này có sự phân chia không gian thờ Phật ở phía trước và không gian thờ Thánh (Từ Đạo Hạnh) ở phía sau, phản ánh sự hòa hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Yếu tố Mật tông thể hiện trong nhiều yếu tố: Bộ tượng Di Đà Tam Tôn được đặt ở vị trí cao nhất, dưới có bộ tượng Từ Đạo hạnh ở ba kiếp Vua, Tiên, Phật (bộ tượng gắn với những chặng đường tu Mật tông của ông); những tràng hạt kỳ bí xung quanh tượng, hay thể hiện ở những nghi lễ ở hội chùa Thầy, tiêu biểu như lễ hội chùa Thầy tưởng nhớ ngày hoá của Thánh Từ Đạo Hạnh, với các nghi lễ tiêu biểu là tắm, thay áo tượng, hay nghệ thuật múa rối nước, hội leo núi,... Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam phục hồi và xuất hiện nhiều trung tâm Kim Cương thừa, có thể kể đến như: Tây Thiên (Phú Thọ) là địa danh Kim Cương thừa nổi tiếng của Việt Nam. Các sử liệu khảo cổ cho thấy Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc cũ, nay là Phú Thọ), từng lưu dấu ấn Kim Cương thừa từ thời xa xưa. Trong kiến trúc Phật giáo Kim Cương thừa, Bảo tháp Mandala rất phổ biến. Về hình dáng, Mandala là một khối hình đối xứng được tạo thành từ những hình tròn và hình vuông đồng tâm và thường được chia thành bốn phần bằng nhau. Mandala là một giản đồ về vũ trụ và cũng là mô hình về thế giới siêu việt tồn tại trong tâm chúng sinh. Trung tâm Mandala được coi là trung tâm vũ trụ, biểu tượng cho Phật tính tự thân hoàn hảo và cũng là đạo tràng giác ngộ của chư Phật. Các Bảo tháp Phật giáo đều gắn với Mandala về cả hình thức, ý nghĩa và nội dung. Bảo tháp có ý nghĩa quan trọng, là nơi chứa đựng Tâm giác ngộ của Chư Phật, thể hiện ngũ đại thanh tịnh (đất, nước, gió, lửa, không khí). Thiết kế của tháp gồm ba phần: chân đế, mái vòm, chóp đỉnh tượng trưng cho Thân - Khẩu – Ý. Lịch sử ghi nhận những Bảo tháp đầu tiên đã được xây dựng ở đức Phật từ thời đức Phật còn tại thế. Đặc biệt, thời Hoàng đế A Dục, ông đã cho kiến lập 84.000 Bảo tháp trải khắp các vùng châu Á. Đại Bảo tháp Tây Thiên được xây dựng năm 2011, dưới chân núi Thạch Bàn, là ngôi bảo tháp đầu tiên được kiến lập theo kiến trúc Kim Cương thừa trên nền diện tích trên 1.500 m2 và chiều cao mang tính biểu trưng 37m. Đại Bảo tháp Tây Thiên được thiết kế xây dựng theo mô hình Mandala vũ trụ với trung tâm là Thánh Tu Di Sơn Vương. Bảo tháp là Mandala Ngũ Trí Phật có bốn cửa quay ra bốn hướng, có năm tháp: tháp trung tâm hình vòm và bốn tháp theo kiến trúc Bồ đề Đạo tràng. Toàn bộ khu Đại Bảo tháp được bao quanh bởi 108 tháo gồm 8 loại tháp khác nhau, mỗi tháp tượng trưng cho một sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc đời đức Phật. Khuôn viên chính của Bảo tháp được chia thành ba phần: chân đế, vòm, hộp vuông. Trong đó, chân đế là chân Phật trong tư thế kiết già thiền định, có bốn cửa ở bốn phương tiêu biểu cho Tứ vô lượng tâm; Phần vòm nêu biểu cho thân Phật, xong quanh mái vòm ở bên ngoài là tám bảo điện nhỏ thờ Tứ Trí Phật. Phần hộp vuông phía trên niên biểu cho đầu Phật, được vẽ mắt Phật nhìn ra bốn phương thế hiện Trí tuệ giác ngộ của đức Phật, soi rọi khắp thế gian. Trên là vương niệm của đức Phật. Trong lòng Bảo tháp, cột trụ chính ở trung tâm chính là Cây Đời sống hay là cây Bồ đề biểu hiện cho trục của vũ trụ, mô tả tiến trình tu tập giác ngộ. Chùa Long Quang (Hà Nội) được biết đến là ngôi chùa duy nhất tại Hà Nội được xây dựng theo lối kiến trúc Mật giáo. Toàn bộ trần, tường, dầm đỡ, cột được trang trí theo phong cách Kim Cương thừa điển hình với các hoạ tiết được thiết kể tỉ mỉ, tinh xảo. Chùa được xây dựng năm 1772, đến năm 1947, thực dân Pháp đưa quân chiếm đóng vùng đất Thanh Liệt, chúng đập phá bằng địa để xây đồn. Tam quan chùa bị phá huỷ biến thành lô cốt, tượng Phật bị vứt xuống giếng. Năm 1994, bản thôn cùng công đức thập phương, chùa Long Quang được xây lại trên nền chùa cũ, đến năm 2012 chùa được xây lại toàn bộ. Chùa được xây dựng trên diện tích 7.000 m2, theo lối kiến trúc Mandala. Các hoạ tiết trang trí trong chùa cũng mang nét đặc trưng của Kim Cương thừa với các hoạ tiết tỉ mỉ, với những vòng tròn Mandala - biểu tượng phổ biến của Kim Cương thừa, các hoa văn, hình hoạ theo phong cách Tây Tạng. Hiện chùa còn lưu giữ được pho tượng đức Đạt Ma là Đức Bồ Tát thứ 28 từ Ấn Độ sang truyền đạo. Quả chuông đúc năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). Dọc theo chiều dài đất nước, từ Bắc vào Nam có rất nhiều ngôi chùa, không gian của Phật giáo Kim Cương thừa: Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội), Chùa Tây Tạng (Thành phố Hồ Chí Minh)…
Ngay từ thời Trần, hai nghi thức tụng niệm buổi sáng và buổi tối gọi là Nhị thời công phu đã cho thấy sự tổng hợp của ba tông phái chính: Thiền - Tịnh - Mật. Sử dụng thần chú phương pháp tu tập điển hình của Mật giáo được phổ biến trong các nghi lễ Phật giáo tại các chùa, đến ngày nay, truyền thống ấy vẫn được duy trì. Hiện nay, tại các chùa ở Việt Nam vẫn duy trì hai thời công phu sáng chiều:
Hay ví như nghi thức Thí thực Mông Sơn thể hiện rõ nét dấu ấn Mật tông: Nghi thức Mông Sơn thí thực mà các chùa Bắc truyền sử dụng để cúng thí thực cô hồn ngày nay hầu hết đều theo bản “Mông Sơn thí thực” của tác giả Kim Cang Bất Động Pháp sư hay còn gọi là Cam Lộ Pháp sư soạn dịch tại núi Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc vào đời Tống (960 – 1279). Theo Hoà thượng Bích Liên: “Đời Tống, cao tăng Bất Động vốn người Thiên Trúc (Ấn Độ), tên A Thiểm Cán Phiết Cán Tư La, tinh thông giáo lý Hiển Mật và Tính Tướng, sang Tây Hạ ở chùa Hộ Quốc, dịch kinh điển Mật tông, được gọi là Kim Cương Thượng sư. Sau Ngài sang Trung Quốc, đến ở núi Mông Sơn tại Tứ Xuyên (nay thuộc huyện Danh Sơn). Mang từ tâm cứu độ các cô hồn lạc loài trong chốn u minh, Ngài tham cứu kinh Du Già Diệm Khẩu và các bộ kinh khác của Mật tông, diễn dịch thành Tiểu thí thực pháp, còn gọi là Tiểu Mông Sơn pháp, Cam lộ pháp hay Mông Sơn thí thực”[6]. Tại các trung tâm Phật giáo Kim Cương thừa thì sinh hoạt tôn giáo thể hiện rõ nét đặc trưng văn hoá Kim Cương thừa. Tại Đại Bảo tháp Tây Thiên, các Phật tử gần xa thường xuyên đến lễ bái và thực hành các nghi thức đặc trưng Phật giáo Kim Cương thừa. Điển hình là nghi thức vi nhiều, cầu nguyện quanh Bảo tháp. Các Phật tử đi nhiễu theo chiều kim đồng hồ quanh Bảo tháp để tích luỹ công đức. Đồng thời đây cũng chính là một pháp môn tu tập căn bản và đầy năng lực bởi khi đi nhiễu Bảo tháp chính là đang kinh hành trong chính niệm, tỉnh thức với tâm trí thành tha thiết và động cơ trong sáng. Đây là pháp tu nhanh chóng để tích luỹ công đức trên con đường đi đến giác ngộ. Vi nhiễu Bảo tháp giúp hành giả tịnh hoá được giới nguyện. Ở bốn phương chính của Đại Bảo tháp Tây Thiên có các Kim luân Vương cỡ lớn cao hai mét. Kim luân gồm một hình trụ xoay trên một trục ở giữa. Những cuốn kinh ghi chân ngôn được quấn bên trong quanh trục này và vỏ bên ngoài thường chạm khảm chân ngôn Lục Tự Đại Minh “Om Mani Padme Hung” cùng các biểu tượng cát tường, thù thắng. Loại Kim luân ở Đại Bảo tháp Tây Thiên là loại cỡ lớn, được trang hoàng tinh tế, cầu kỳ, khảm đồng thếp vàng như một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo, gọi là Kim luân Vương. Đại chúng đến với nơi đây có thể kết hợp nhiễu tháp và cầu nguyện chuyển chú tích luỹ công đức. Quan niệm của Kim Cương thừa cho rằng: thực hành pháp tu Kim luân, chúng sinh không chỉ tích luỹ được công đức mà còn tịch hoá được vô vàn nghiệp chướng, sự chuyển động của kim luân chuyển chú mang lại công đức to lớn. Với bề dày lịch sử hơn hai ngàn năm, và tầm ảnh hưởng rộng lớn trên nhiều quốc gia, Phật giáo Kim Cương thừa đồng thời đóng góp cho nhân loại một nền nghệ thuật vô cùng đặc sắc vi diệu. Phật giáo Kim Cường thừa truyền vào Việt Nam từ rất sớm và ảnh hưởng đến các thiền phái ở Việt Nam, hình thành nên ở Việt Nam một truyền thống Phật giáo dung hoà Thiền - Tịnh - Mật đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Trong hệ thống các chùa và sinh hoạt Phật giáo ở Việt Nam dấu ấn của Mật thừa rất đậm nét. Thời gian gần đây, ở Việt Nam phục hồi và hình thành một số trung tâm Phật giáo Kim Cương thừa đặc sắc, góp phần vào sự đa dạng và tạo nên bản sắc Phật giáo Việt Nam./. Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Lang (2014), Việt Nam Phật giáo sử luận toàn tập, Công ty sách thời đại và NXB Văn học, tr.125 [2] Nguyễn Lang (2014), Việt Nam Phật giáo sử luận toàn tập, Công ty sách thời đại và NXB Văn học, tr.127 [3] Nguyễn Lang (2014), Việt Nam Phật giáo sử luận toàn tập, Công ty sách thời đại và NXB Văn học, tr.174. [4] Nguyễn Lang (2014), Việt Nam Phật giáo sử luận toàn tập, Công ty sách thời đại và NXB Văn học [5] Đặng Thị Phong Lan (2013), “Chùa Thầy và sự thể hiện những yếu tố Mật tông”, Việt Nam học - Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ tư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. [6] Bích Liên (2014), Mông Sơn thí thực khoa nghi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr.7 |