Nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa
Tại phiên thảo luận Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, hệ số ICOR giảm từ 6,4 xuống 4,5 - 4,8. Nhu cầu vốn giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến tăng gấp 2,67 lần so với giai đoạn 2021 - 2025, đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực rất lớn, nhất là nguồn vốn từ FDI. Việt Nam không thể đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số nếu thiếu vốn FDI.
Thống kê cho thấy, vốn FDI thực hiện trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 21 tỷ USD; cả năm phấn đấu đạt tối thiểu 30 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp tỷ trọng lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu, tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, thu hút đầu tư không chỉ dừng ở quy mô vốn mà quan trọng hơn là khả năng nâng cao giá trị gia tăng, tiếp nhận công nghệ và thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho hay, cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm hiệu quả của các ưu đãi thuế truyền thống. Do đó, Việt Nam cần nghiên cứu phương thức hỗ trợ đầu tư phù hợp hơn, hướng tới các ngành, lĩnh vực và đối tác có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, cơ chế hỗ trợ cần tập trung vào những mục tiêu cụ thể như phát triển công nghệ cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị. Việc hỗ trợ cần gắn với hiệu quả thực chất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và nền kinh tế Việt Nam.
Đặc biệt, việc tăng cường hợp tác với các tập đoàn quốc tế cần đi đôi với nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa. Khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng, giá thành và năng lực cung ứng, khả năng tham gia sâu vào chuỗi sản xuất của các tập đoàn lớn sẽ còn hạn chế. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao là những nhiệm vụ cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư.
Đổi mới chính sách hỗ trợ đầu tư
Bên cạnh những nội dung trên, một trong những điểm mới của dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi đề xuất nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Theo Luật sư Nguyễn Tiến Phương - Giám đốc Công ty Luật TNHH Tiến Phương (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường là hướng đi phù hợp, nhưng phải bảo đảm minh bạch, thống nhất và kiểm soát được quyền tùy nghi của cơ quan quản lý.
Luật sư Nguyễn Tiến Phương - Giám đốc Công ty Luật TNHH Tiến Phương (Đoàn Luật sư TP Hà Nội). (Ảnh: LSCC)Luật sư Nguyễn Tiến Phương cho hay, khoản 1 và khoản 2 Điều 8 Luật Đầu tư năm 2025 đã xác lập nguyên tắc nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện như nhà đầu tư trong nước, trừ ngành, nghề thuộc Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường. Vì vậy, dự thảo cần làm rõ ba điểm: Về thẩm quyền: Thứ nhất, điều kiện đã được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc điều ước quốc tế thì việc nới lỏng phải có cơ chế báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành và không được trái cam kết quốc tế. Thứ hai, về căn cứ và lộ trình: Cần có tiêu chí nới lỏng, đánh giá tác động đầy đủ, nhất là với lĩnh vực như quốc phòng, an ninh. Thứ ba, về công khai Danh mục và điều kiện phải được công bố, cập nhật kịp thời để nhà đầu tư dự liệu trước, tránh cơ chế xin - cho. Mục tiêu không chỉ là mở rộng cửa thị trường, mà còn bảo đảm quyền tiếp cận được thực hiện minh bạch, bình đẳng, nhất quán.
Dự thảo Luật cũng định hướng chuyển từ ưu đãi dựa chủ yếu vào quy mô vốn đầu tư sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, chuyển giao công nghệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. Về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Tiến Phương cho rằng, ưu đãi chỉ tạo giá trị khi gắn chặt với kết quả thực hiện cam kết. Điều 14 và Điều 15 Luật Đầu tư năm 2025 đã quy định các hình thức ưu đãi, hỗ trợ và giao Chính phủ xác định ngành, nghề, địa bàn ưu đãi. Trên cơ sở đó, theo ông, dự thảo Luật cần quy định rõ ba nội dung: Về tiêu chí: Ngay trong Luật cần có nguyên tắc, tiêu chí cơ bản xác định dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt như tác động lan tỏa, đóng góp nâng cao năng lực cạnh tranh; các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động, nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh phải được lượng hóa và ghi nhận trong văn bản chấp thuận hoặc đăng ký đầu tư.
Về giám sát: Đánh giá định kỳ, công khai kết quả thực hiện cam kết; hỗ trợ qua Quỹ hỗ trợ đầu tư theo chi phí hợp lệ thực tế, trong dự toán ngân sách do Quốc hội quyết định. Về xử lý vi phạm: Có căn cứ cụ thể để điều chỉnh, thu hồi ưu đãi, yêu cầu hoàn trả khoản hỗ trợ không đủ điều kiện, tương xứng mức độ vi phạm, bảo đảm quyền giải trình của nhà đầu tư. Ưu đãi phải gắn với giá trị thực tế dự án mang lại, không chỉ dựa trên vốn đăng ký hay cam kết trên giấy.
Đề cập đến các “điểm nghẽn” trong thực tế khi triển khai các dự án, Luật sư Nguyễn Tiến Phương cho rằng, “điểm nghẽn” lớn nhất là sự chồng chéo giữa thủ tục đầu tư với thủ tục đất đai, đấu thầu và pháp luật chuyên ngành. Điều 126 Luật Đất đai năm 2024 quy định giao đất, cho thuê đất thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư và dẫn chiếu trình tự sang Luật Đấu thầu năm 2023, trong đó Điều 46 quy định về lựa chọn nhà đầu tư. Vì vậy, dự thảo cần ưu tiên ba việc: Một là, làm rõ quan hệ giữa đăng ký đầu tư với thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, nhất là khi đất chưa được thu hồi; mỗi bước phải có cơ quan chủ trì, thời hạn và điều kiện chuyển bước. Hai là, hạn chế dẫn chiếu mở kiểu “theo quy định của pháp luật”; các trường hợp không đấu giá, đấu thầu, kể cả dự án sử dụng khu vực biển, cần được xác định bằng phạm vi, tiêu chí ngay trong Luật và thống nhất với pháp luật về đất đai, đấu thầu, tài nguyên và môi trường biển.
Ba là, thiết lập cơ chế phối hợp: Cổng một cửa đầu tư quốc gia cần sớm trở thành nền tảng số thống nhất, kết nối dữ liệu để nhà đầu tư không phải nộp lặp hồ sơ; việc phân định Bộ Tài chính quản lý nhà nước về khu kinh tế; Bộ Công Thương chủ trì quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất cần có quy chế phối hợp rõ, tránh đùn đẩy trách nhiệm. “Rút ngắn thủ tục không phải là bỏ qua điều kiện pháp luật, mà là khắc phục chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm và bảo đảm mỗi thủ tục đều có căn cứ, thời hạn và cơ chế kiểm soát” - Giám đốc Công ty Luật TNHH Nguyễn Tiến Phương khẳng định.