Tin90p.com - PHỔ BIẾN KIẾN THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - CẦU NỐI GIỮA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ SẢN XUẤT KINH DOANH

Đăng lúc: 2026-05-25 13:15:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 2 | Chuyên mục: Phát triển

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ (KH&CN) trở thành động lực then chốt của phát triển kinh tế - xã hội, việc phổ biến kiến thức KH&CN đóng vai trò cầu nối thiết yếu giữa tri thức đổi mới sáng tạo và ứng dụng trong sản xuất kinh doanh. Bài viết làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của KH&CN trong kỷ nguyên mới và sự cần thiết phải tăng cường phổ biến kiến thức KH&CN để hiện thực hóa các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là 4 trụ cột lý luận mới của Đảng (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW). Đồng thời, bài viết đánh giá thực trạng công tác phổ biến kiến thức KH&CN tại Việt Nam, vai trò của Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong việc kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.

1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN KIẾN THỨC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
Bối cảnh khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của KH&CN trong phát triển đất nước
Thế giới đang chứng kiến những bước tiến vượt bậc của khoa học công nghệ với tốc độ chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đánh dấu sự hội tụ của nhiều công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo, học máy, Internet vạn vật, điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học và vật liệu mới. Những tiến bộ này không chỉ thay đổi phương thức sản xuất mà còn tái cấu trúc toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu, tạo ra những cơ hội và thách thức chưa từng có đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), các quốc gia dẫn đầu về đổi mới sáng tạo đều là những nước có hệ sinh thái kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn. Sự kết nối này không chỉ diễn ra ở cấp độ thể chế mà còn thông qua việc lan tỏa tri thức, chia sẻ thông tin và phổ biến các thành tựu KH&CN đến đông đảo cộng đồng, đặc biệt là doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, KH&CN đã và đang khẳng định vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn 2016-2020, đóng góp của tiến bộ khoa học công nghệ vào tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt khoảng 45%, tăng từ mức 35-40% của giai đoạn trước đó. Tuy nhiên, con số này vẫn còn thấp so với các nước phát triển (70-80%) và ngay cả một số nước trong khu vực như Hàn Quốc (55-60%) hay Malaysia (50-55%). Điều này cho thấy tiềm năng to lớn nhưng cũng là thách thức lớn trong việc nâng cao năng lực KH&CN và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ khoảng 15-20% các kết quả nghiên cứu khoa học được chuyển giao và ứng dụng vào sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ nằm ở chất lượng nghiên cứu hay năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp, mà còn ở sự thiếu kết nối, thiếu thông tin và thiếu các cơ chế trung gian hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không biết đâu là nguồn tri thức, công nghệ phù hợp với nhu cầu của mình, trong khi các nhà khoa học cũng khó tiếp cận với các bài toán thực tiễn từ sản xuất kinh doanh.
Chính trong bối cảnh này, công tác phổ biến kiến thức KH&CN trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Phổ biến kiến thức KH&CN không đơn thuần là việc truyền đạt thông tin một chiều mà là quá trình tạo ra sự tương tác hai chiều, xây dựng cầu nối giữa thế giới tri thức với thế giới thực tiễn, giúp các thành tựu khoa học được hiểu, được tiếp cận và cuối cùng là được ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, góp phần tạo ra giá trị kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Một số quan điểm, chỉ đạo mới, có tính đột phá của Đảng và Nhà nước trong  phát triển KH&CN và phổ biến kiến thức KH&CN
Nhận thức sâu sắc về vai trò then chốt của KH&CN và đổi mới sáng tạo, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng trong thời gian gần đây, trong đó đặc biệt nổi bật là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 9 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ: "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, nền tảng quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước". Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có nền khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển, nằm trong nhóm 50 nước dẫn đầu về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Để đạt được mục tiêu này, Nghị quyết nhấn mạnh cần phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trong đó việc kết nối, chia sẻ và phổ biến tri thức KH&CN được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm.
Đặc biệt, Nghị quyết 57-NQ/TW đã chỉ rõ cần đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ, kết nối cung - cầu về khoa học và công nghệ và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây chính là cơ sở quan trọng khẳng định vai trò thiết yếu của công tác phổ biến kiến thức KH&CN trong chiến lược phát triển đất nước.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 12 tháng 5 năm 2022 về phát triển doanh nghiệp tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra quan điểm doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Nghị quyết xác định rõ cần tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận tri thức, công nghệ mới, tham gia nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến thời điểm 31/12/2024, cả nước có khoảng 940.078 doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 2% so với cùng kỳ năm 2023). Gần 98% trong số này có quy mô nhỏ và vừa.
Tuy nhiên đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Việt Nam còn hạn chế chỉ đạt 0,5% GDP (bằng một phần tư so với mục tiêu 2%). Theo tính toán gần đây nhất của World Bank vào năm 2021, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, tức gấp hơn 5 lần Việt Nam. Một trong những nguyên nhân quan trọng là doanh nghiệp thiếu thông tin, thiếu kết nối với các nguồn tri thức và công nghệ. Do đó, việc phổ biến kiến thức KH&CN đến doanh nghiệp không chỉ giúp họ tiếp cận công nghệ mà còn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo, từ đó thúc đẩy đầu tư vào R&D.
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua vào ngày 27 tháng 6 năm 2025và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 đã có nhiều điểm mới quan trọng liên quan đến phổ biến kiến thức KH&CN. Điều 10. Trách nhiệm phổ biến, lan tỏa tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN được cụ thể hóa trong rất nhiều điều khác về hoạt động KH&CN trong Luật.  Đặc biệt, Luật tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho hoạt động của các tổ chức trung gian như trung tâm chuyển giao công nghệ, tổ chức tư vấn đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp. Đây chính là những tổ chức đóng vai trò then chốt trong việc phổ biến kiến thức KH&CN và kết nối giữa nhà khoa học với doanh nghiệp. Luật cũng quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo môi trường tin cậy cho việc chia sẻ thông tin và hợp tác giữa các bên.
Có thể thấy Đặc biệt lần đầu tiên có sự thống nhất, chặt chẽ, chỉ đạo đồng bộ từ Đảng đến Nhà nước trong việc phát triển KH&CN và phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp, đề cao vai trò phổ biến tri thức KH&CN như nhân tố động lực đưa khoa học đến thực tiễn, ứng dụng, khuyến khích sự tham gia tích cực của nhà khoa học, doanh nhân, doanh nghiệp trong phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia bền vững.
Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải triển khai đúng tinh thần và nội dung của các Nghị quyết, chính sách này, trong đó việc tăng cường phổ biến kiến thức KH&CN, tạo dựng các kênh kết nối hiệu quả giữa nhà khoa học và doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên thực hiện.
2. CÔNG TÁC PHỔ BIẾN KIẾN THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HIỆP HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
Công tác phổ biến kiến thức KH&CN ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những thành tựu to lớn, đáng ghi nhận, song vẫn còn khó khăn, hạn chế và những điểm “nghẽn” của điểm “nghẽn” dẫn đến chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và kỳ vọng của xã hội.
Với vai trò đoàn kết, tập hợp trí thức KH&CN Việt Nam, trong khoảng 20 năm qua, Liên hiệp Hội Việt Nam đã quy tụ và phát triển mạng lưới các hội thành viên ở trung ương, Liên hiệp Hội tỉnh, thành phố, các tổ chức KH&CN trực thuộc và các hội viên đa ngành, đa lĩnh vực là các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia hàng đầu trong hầu hết các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, Liên hiệp Hội Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái KH&CN và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Trong những năm qua, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm phổ biến kiến thức KH&CN và tạo cầu nối học thuật giữa nhà khoa học với cộng đồng để ứng dụng KH&CN và đời sống. Trong có cấu tổ chức, tại Trung ương và địa phương, Liên hiệp Hội Việt Nam thành lập Ban Truyền thông và Phổ biến kiến thức trực thuộc cơ quan Liên hiệp Hội Việt Nam để chỉ đạo, điều hành công tác Truyền thông và Phổ biến kiến thức KH&CN. Nhiều năm qua hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức của  Liên hiệp Hội Việt Nam được triển khai rộng rãi từ trung ương đến địa phương, từ Liên hiệp Hội Việt Nam đến các tổ chức thành viên, tổ chức trực thuộc đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn, bao gồm các hoạt động:
- Biên soạn, xuất bản và phát hành một số lượng lớn các ấn phẩm phổ biến kiến thức KH&CN, trong đó đặc biệt là Bản tin Phổ biến kiến thức của Liên hiệp Hội Việt Nam theo định hướng nhà khoa học cầm tay, chỉ việc cho cộng đồng được phát hành đến cộng đồng mọi miền đất nước.
- Ước tính từ khi thành lập đến nay đã có hàng chực ngàn hội thảo, hội nghị truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN, chương trình tập huấn kỹ thuật được Liên hiệp Hội và các tổ chức thành viên tổ chức đem lại hiệu quả cao. Liên hiệp Hội Việt Nam và các Hội thành viên cũng đã thực hiện nhiều chương trình truyền hình chuyên đề, tin tức, bài viết, phóng sự, diễn đàn khoa học và công nghệ giới thiệu về kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam vào sản xuất và đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân.
- Các nhiệm vụ Truyền thông, phổ biến KH&CN được Liên hiệp Hội Việt Nam từ trung ương đến địa phương xác định và đưa ra tiêu chuẩn đánh giá như Nhiệm vụ KH&CN, được vận dụng triển khai sáng tạo hàng năm bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
- Hàng năm tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật cấp tỉnh và toàn quốc và phối hợp với hầu hết Liên hiệp Hội tỉnh/thành phố tổ chức các Hội thi sáng tạo kỹ thuật, Hội thi sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng. Đây là hoạt động đem lại ý nghĩa xã hội lớn khi hàng ngàn công trình, giải pháp, ý tưởng sáng tạo đã được đưa vào cuộc sống, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ tiến quân vào KH&CN, đổi mới sáng tạo.
- Tổ chức các Diễn đàn Trí thức chuyên nghiệp, phối hợp 2 trụ cột của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động của truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN và tư vấn, phản biện xã hội góp phần xây dựng, triển khai hiệu quả chính sách KH&CN trong thực tiễn.
- Kế nối kỹ sư, doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam, tham gia hội nhập các diễn đàn Kỹ sư chuyên nghiệp khu vực và thế giới như Cafeo
- Xây dựng website Liên hiệp Hội Việt Nam, nhà xuất bản Tri thức, hệ thống báo chí Liên hiệp Hội Việt Nam thành các cơ quan truyền thông khoa học mạnh, trong đó thực hiện nhiệm vụ chính trị đem trí thức KH&CN đến ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
- Các tổ chức thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam triển khai nhiều dự án nghiên cứu, phát triển, trong đó thúc đẩy truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN gắn với phát triển cồng đem lại hiệu quả thực tiễn lớn trong hỗ trợ, phát triển sinh kế người dân, phát triển doanh nghiệp địa phương, hình thành phong trào cộng đồng khởi nghiệp, lập nghiệp mới qua đó phát triển kinh tế-xã hội địa phương bền vững.
Bài học từ những thành tựu của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN được ghi nhận từ những yếu tố sau:
- Sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ, kịp thời của Liên hiệp Hội Việt Nam từ trung ương đến địa phương, kết hợp hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN và xây dựng, tổ chức bộ máy chuyên nghiệp, rộng khắp và đa dạng, tiếp cận và huy động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong hầu hết các lĩnh vực vào hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN.
- Khai thác, tận dụng tối đa uy tín và vị thế của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hệ thống chính trị và cộng đồng khoa học. Huy động được nguồn nhân lực trí thức chất lượng cao, các chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Khai thác được tính đa ngành, nghề và khả năng tư vấn tổng hợp. Trong bối cảnh các bài toán công nghệ ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều chuyên môn khác nhau, khả năng huy động chuyên gia từ nhiều lĩnh vực của Liên hiệp Hội Việt Nam trở thành lợi thế lớn khi có thể tổ chức các nhóm chuyên gia liên ngành, chất lượng cao để giải quyết các vấn đề phức hợp mà doanh nghiệp, cộng đồng gặp phải.
- Cơ chế hoạt động mở và linh hoạt. Là tổ chức xã hội - nghề nghiệp không nặng về quy trình hành chính phức tạp, có thể linh hoạt hơn trong việc tổ chức các hoạt động, xây dựng cơ chế phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, quốc tế, các đối tác khác nhau khá thuận lợi, hiệu quả.
Bên cạnh những thành công, thuận lợi, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong việc thực hiện vai trò phổ biến kiến thức KH&CN và kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, cộng đồng.
Khó khăn đầu tiên và lớn nhất là về nguồn lực tài chính. Hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN, tổ chức các sự kiện kết nối, xây dựng nền tảng công nghệ, duy trì đội ngũ chuyên gia tư vấn đều đòi hỏi nguồn kinh phí lớn và ổn định. Tuy nhiên, ngân sách sự nghiệp từ nhà nước dành cho Liên hiệp Hội Việt Nam còn hạn chế. Việc huy động tài trợ từ các tổ chức, doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn do chưa có cơ chế khuyến khích rõ ràng, đồng thời nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được giá trị của việc đầu tư vào các hoạt động kết nối KH&CN.
Thứ hai là thiếu đội ngũ cán bộ chuyên trách có năng lực chuyên môn sâu và kỹ năng kết nối hiện đại. Công tác phổ biến kiến thức KH&CN và tư vấn cho doanh nghiệp, cộng đồng đòi hỏi người làm không chỉ hiểu sâu về chuyên môn kỹ thuật mà còn phải nắm vững kiến thức về kinh doanh, thị trường, có kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và marketing. Tuy nhiên, phần lớn cán bộ của các hội hiện nay là các nhà khoa học, kỹ sư làm kiêm nhiệm, chưa có nhiều kinh nghiệm về quy trình đầu tư sản xuất, kinh doanh, thị trường…
Thứ ba là Nhà nước chưa có cơ chế chính sách chung, rõ ràng để khuyến khích các nhà khoa học tham gia hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn doanh nghiệp. Trong hệ thống đánh giá hiện nay của các viện nghiên cứu, trường đại học, hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn thực tiễn thường không được tính vào thành tích khoa học, không được ghi nhận tương đương với việc công bố bài báo khoa học hay đề tài nghiên cứu. Điều này khiến nhiều nhà khoa học, đặc biệt là những người trẻ đang xây dựng sự nghiệp, không mặn mà với các hoạt động này.
Thứ tư là sự chênh lệch về nhận thức và văn hóa giữa nhà khoa học và doanh nhân. Nhà khoa học thường có tư duy lý thuyết, hệ thống, coi trọng tính chính xác và tính khoa học, trong khi doanh nhân thường có tư duy thực tiễn, linh hoạt, coi trọng hiệu quả kinh tế và tốc độ. Sự khác biệt này tạo ra rào cản giao tiếp, khiến hai bên khó hiểu nhau và khó hợp tác hiệu quả. Một khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương năm 2023 cho thấy, 58% doanh nghiệp cho rằng các nhà khoa học "nói quá lý thuyết, khó hiểu", trong khi 62% nhà khoa học cho rằng doanh nghiệp "chỉ quan tâm lợi nhuận ngắn hạn, không muốn đầu tư cho nghiên cứu dài hạn".
Thứ năm là hạn chế về cơ sở vật chất và công nghệ. Nhiều hội thành viên của Liên hiệp Hội Việt Nam còn thiếu trang thiết bị hiện đại, đặc biệt là các công cụ số hóa để quản lý thông tin, kết nối trực tuyến và tổ chức các hoạt động ảo. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc thiếu đầu tư vào công nghệ khiến Liên hiệp Hội Việt Nam khó cạnh tranh với các nền tảng kết nối mới, các startup công nghệ đang nổi lên.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO LIÊN HIỆP HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
Để khắc phục những hạn chế, phát huy các thế mạnh và thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa KH&CN, đổi mới sáng tạo với sản xuất kinh doanh, Liên hiệp Hội Việt Nam cần nghiên cứu triển khai đồng bộ các giải pháp sau đây.
3.1. Xây dựng hệ sinh thái kết nối KH&CN toàn diện và bền vững
Liên hiệp Hội Việt Nam cần chuyển từ tổ chức các hoạt động kết nối mang tính sự kiện sang xây dựng một hệ sinh thái kết nối toàn diện, trong đó các bên liên quan có thể tương tác thường xuyên, bền vững.
Trọng tâm là phát triển nền tảng số thông minh, đóng vai trò là trung tâm kết nối cung - cầu về KH&CN. Nền tảng này cần được thiết kế với giao diện thân thiện, dễ sử dụng, có các chức năng như cơ sở dữ liệu chuyên gia theo từng lĩnh vực chuyên môn, ngân hàng công nghệ với thông tin chi tiết về các giải pháp kỹ thuật sẵn có, kho bài toán công nghệ do doanh nghiệp đặt ra, diễn đàn trao đổi trực tuyến và hệ thống gợi ý kết nối thông minh dựa trên trí tuệ nhân tạo. Nền tảng cần tích hợp với các hệ thống quản lý quan hệ khách hàng để theo dõi toàn bộ quá trình từ khi có nhu cầu đến khi hoàn thành hợp tác, từ đó có thể đánh giá hiệu quả và cải tiến liên tục.
Bên cạnh nền tảng số, Liên hiệp Hội Việt Nam nên thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo tại các vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Các trung tâm này không chỉ là không gian vật lý để các bên gặp gỡ mà còn là nơi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn diện như tư vấn chuyên sâu, thử nghiệm công nghệ, đào tạo và ươm tạo dự án. Trung tâm cần được trang bị phòng thí nghiệm, xưởng thực hành và các thiết bị hiện đại, có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp và mạng lưới chuyên gia sẵn sàng hỗ trợ.
Để tạo sự liên kết giữa các thành viên trong hệ sinh thái, Liên hiệp Hội Việt Nam nên nghiên cứu, phát triển chương trình “Đại sứ công nghệ” với đội ngũ gồm các chuyên gia có kinh nghiệm làm việc trong cả lĩnh vực học thuật và doanh nghiệp. Những đại sứ này sẽ đóng vai trò như những người dịch thuật văn hóa, giúp cầu nối giữa hai thế giới có ngôn ngữ và cách tiếp cận khác nhau. Họ cần được đào tạo về kỹ năng tư vấn, kỹ năng đàm phán và hiểu biết về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, để có thể đồng hành hiệu quả với các dự án hợp tác.
3.2. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới căn bản nội dung và hình thức phổ biến kiến thức KH&CN
Công tác phổ biến kiến thức cần chuyển từ phương thức truyền thống, một chiều sang mô hình tương tác, dựa trên nhu cầu thực tế.
Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiến hành nghiên cứu, khảo sát để phân loại chi tiết nhu cầu công nghệ của các nhóm doanh nghiệp theo ngành nghề, quy mô, vùng miền và giai đoạn phát triển. Dựa trên đó, xây dựng các chương trình phổ biến kiến thức được cá nhân hóa, với nội dung cụ thể, sát thực tế. 9Ví dụ, đối với doanh nghiệp chế biến nông sản, nội dung nên tập trung vào công nghệ bảo quản, chế biến, đóng gói và truy xuất nguồn gốc; đối với doanh nghiệp sản xuất cơ khí, tập trung vào công nghệ tự động hóa, robot và quản lý chuỗi cung ứng0.
Hình thức truyền thông cần được đa dạng hóa để phù hợp với từng đối tượng và mục đích. Bên cạnh các hội nghị, hội thảo truyền thống, Liên hiệp Hội Việt Nam nên đầu tư mạnh vào các hình thức truyền thông hiện đại như Webinar chuyên đề, video ngắn giới thiệu công nghệ, podcast với sự tham gia của chuyên gia và doanh nhân thành công, infographic minh họa các quy trình công nghệ, và các khóa học trực tuyến ngắn hạn. Đặc biệt quan trọng là phát triển kênh mạng xã hội chính thức Liên hiệp Hội Việt Nam với nội dung được thiết kế chuyên nghiệp, hấp dẫn, dễ tiếp cận và có tính viral cao. Nội dung cần được trình bày bằng ngôn ngữ đơn giản, gần gũi, tránh thuật ngữ học thuật khó hiểu, kèm theo các ví dụ thực tế, số liệu minh họa và các câu chuyện truyền cảm hứng.
3.3. Nâng cao toàn diện năng lực đội ngũ và xây dựng mạng lưới chuyên gia
Để thực hiện hiệu quả vai trò cầu nối, Liên hiệp Hội Việt Nam cần đầu tư chiến lược vào phát triển nguồn nhân lực. Trước hết, cần tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về các kỹ năng cần thiết như tư vấn doanh nghiệp, quản lý dự án KH&CN, kỹ năng đàm phán và giải quyết xung đột, kỹ năng truyền thông và marketing, quản lý nền tảng số và phân tích dữ liệu. Các khóa đào tạo nên kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế. Cũng cần khuyến khích cán bộ tham gia các khóa học nâng cao, các chương trình trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức tương tự ở nước ngoài để cập nhật xu hướng và mô hình mới.
Đồng thời, Liên hiệp Hội Việt Nam cần xây dựng chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là các bạn trẻ am hiểu công nghệ số, có tư duy đổi mới và nhiệt huyết. Cần có chế độ đãi ngộ cạnh tranh, môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng để giữ chân những người tài năng về cả 2 lĩnh vực khoa học và truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN.
Cần xây dựng mạng lưới chuyên gia cố vấn đa ngành, đa lĩnh vực, gồm các nhà khoa học đầu ngành, các kỹ sư có kinh nghiệm thực tiễn, mời thêm sự tham gia của các doanh nhân thành công và các chuyên gia về chính sách. Mạng lưới này sẽ là nguồn lực quý giá để Liên hiệp Hội Việt Nam huy động khi cần tư vấn cho các dự án cụ thể.
3.4. Chủ động tham gia góp ý, phản biện, hoàn thiện cơ chế, chính sách và phát triển mô hình hoạt động bền vững về tài chính
Với vai trò là tổ chức đại diện cho cộng đồng khoa học kỹ thuật và có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, Liên hiệp Hội Việt Nam cần tăng cường hơn nữa tính chủ động trong nghiên cứu, phản biện, đề xuất với Chính phủ, các bộ ngành các cơ chế chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN và kết nối doanh nhân, doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thực tiễn. Cụ thể, cần kiến nghị về chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN, có thể thông qua các Quỹ KH&CN, hoặc chương trình mục tiêu quốc gia. Đề xuất các ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển, hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, cũng như cho các tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian KH&CN.
Để giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và tạo nguồn lực cho phát triển, Liên hiệp Hội Việt Nam cần xây dựng mô hình hoạt động có khả năng tự chủ tài chính một phần. Trọng tâm là phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao mà doanh nghiệp sẵn sàng chi trả. Các dịch vụ này có thể bao gồm tư vấn chuyên sâu theo dự án, đánh giá và thẩm định công nghệ, hỗ trợ xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật, môi giới và hỗ trợ đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ. Để các dịch vụ này có tính cạnh tranh, Liên hiệp Hội Việt Nam cần đảm bảo chất lượng cao, quy trình chuyên nghiệp và giá cả hợp lý.
Liên hiệp Hội Việt Nam cũng cần xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu, mời họ tham gia đồng tài trợ các chương trình kết nối, các giải thưởng đổi mới sáng tạo. Đổi lại, các doanh nghiệp này được hưởng lợi ích về hình ảnh thương hiệu, tiếp cận với cộng đồng khoa học kỹ thuật, và cơ hội tuyển dụng nhân tài.
3.5. Đẩy mạnh chuyển đổi số, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo và tinh thần hợp tác
Chuyển đổi số không chỉ là xu hướng mà là yêu cầu bắt buộc để Liên hiệp Hội Việt Nam có thể hoạt động hiệu quả trong thời đại mới. Ngoài nền tảng kết nối đã đề cập, Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiếp tục số hóa toàn bộ quy trình quản lý nội bộ, từ quản lý hội viên, tổ chức sự kiện, quản lý tài chính đến quản lý dự án. Cần ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo để phân tích nhu cầu doanh nghiệp, gợi ý kết nối phù hợp; công nghệ blockchain để bảo mật thông tin và xác thực giao dịch; thực tế ảo và thực tế tăng cường để tạo trải nghiệm tương tác mới trong các sự kiện trực tuyến.
Đầu tư vào công nghệ không chỉ giúp Liên hiệp Hội Việt Nam làm việc hiệu quả hơn mà còn tạo hình ảnh là tổ chức tiên phong, đi đầu trong ứng dụng công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam cần đóng vai trò tiên phong trong việc xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong cộng đồng khoa học kỹ thuật và xã hội. Văn hóa này cần khuyến khích sự cởi mở, sẵn sàng chia sẻ tri thức, chấp nhận thất bại như một phần của quá trình học hỏi, tôn trọng sở hữu trí tuệ nhưng đồng thời ưu tiên lợi ích chung.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 9 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
  2. Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 12 tháng 5 năm 2022 về phát triển doanh nghiệp tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
  3.  Quốc hội (2025), Luật Khoa học và Công nghệ, Đổi mới sáng tạo
  4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024), Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động khoa học và công nghệ năm 2023 và phương hướng nhiệm vụ năm 2024
  5. Liên hiệp Hội Việt Nam, các báo cáo tổng kết hàng năm
  6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2023), Báo cáo khảo sát nhu cầu công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam
  7. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2023), Nghiên cứu về kết nối giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
  8. World Intellectual Property Organization (2024), Global Innovation Index 2024, Geneva: WIPO

 

Theo doithoaiphattrien.vn