Tin90p.com - HOA SƠN VIÊN, VÙNG “TÂM AN” GIỮA CÕI “TỈNH THỨC” VÀ HÀNH TRÌNH TU TẬP THIỀN HỌC CỦA MỘT DOANH NHÂN
Đăng lúc: 2026-03-26 10:54:00
|
Bởi: admin
|
Lượt xem: 5
|
Chuyên mục: Di tích thắng cảnh
Giữa dòng đời chuyển động hối hả, khi con người bị cuốn vào guồng quay của công việc như cỗ máy, bên cạnh những bổn phận, trách nhiệm và áp lực không tên, có một điểm sáng bỗng xuất hiện trong tâm thức mỗi chúng ta. Đó là sự khát khao được sống chậm, sống tỉnh thức và có lúc được về nhà như dấu lặng trên khuông nhạc của riêng mình. Ẩn mình giữa rừng núi Sóc Sơn (Hà Nội), Hoa Sơn Viên hay tên gọi khác là Hoa Sơn Tịnh Thất là một trạm dừng chân. Không quá phô trương, đồ sộ, Hoa Sơn Viên tiếp cận Phật giáo như sự dừng chân của hoàng đến Trần Nhân Tông (1258-1358) trước cửa Thiền. Sinh thời, giáo sư Vũ Khiêu (1916-2021) từng đến Hoa Sơn và viết: “Sơn hà phúc thủy ân thiên tử/Hương khói Hoa Sơn bái Phật Hoàng”. Trong cách nhìn nhà văn hóa Vũ Khiêu đáng kính, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm là hiện thân của một sự chuyển hóa đặc biệt về “Thân”, “Tâm”, “Tuệ”. Khi còn là thiên tử, Ngài là anh hùng dân tộc, đấng minh quân, thực hiện trách nhiệm trọn vẹn với quốc gia, dân tộc, ban bố ân đức cho nhân dân và đem lại phúc lành cho sơn hà. Khi rời ngai vàng, Ngài lại tìm về chốn mây, núi, trời, nước linh thiêng, tiếp tục độ trì dân chúng bằng con đường tu hành và giác ngộ. Hai hành trình “Đời”, “Đạo” ấy không tách rời, mà tiếp nối nhau trong tinh thần xuyên suốt của Thiền học mang đậm bản sắc và khí chất Việt Nam. Hoa Sơn Viên cũng vậy, từ vùng đất đồi núi hoang sơ được mở mang, khai phá, xây dựng để trở thành không gian văn hóa tâm linh, không chỉ giúp mọi người đến tu tập mà còn cảm nhận về nhiều giá trị cuộc sống bình an.
1. Hoa Sơn Viên, khu vườn Thiền Việt giữa núi rừng
Ẩn mình giữa khu rừng và đồi thuộc thôn Thanh Hà, xã Trung Giã, Sóc Sơn (Hà Nội), một Tịnh Thất xuất hiện không phải là ngôi chùa theo nghĩa thông thường, mà là không gian tu học được kiến tạo như một “Thiền cảnh” sống động. Ở đó thiên nhiên, kiến trúc và tinh thần Phật giáo hòa quyện thành một chỉnh thể có chiều sâu và thống nhất.
Từ trung tâm Hà Nội, nếu xuất phát từ hồ Hoàn Kiếm, quãng đường đến Hoa Sơn vào khoảng hơn 40 km, theo hướng cầu Nhật Tân - sân bay Nội Bài, men theo trục bên trái Sóc Sơn, qua Phủ Thành Chương vài kilômét là có thể chạm vào cửa ngõ Hoa Sơn Viên.
Chỉ hơn một giờ di chuyển, nhưng những lớp nhà cao tầng lặng lẽ lùi lại phía sau, nhường chỗ cho đồi núi, rừng cây và những khoảng trời mở rộng. Con đường dẫn vào Hoa Sơn chào đón khách thập phương là sự đổi nhịp từ đô thị ồn ào sang không gian thiên nhiên tĩnh lặng, thư thái, nơi mọi khoảng cách không gian, thời gian dường như được thu lại gần hơn. Và chính trong sự dịch chuyển địa lý tưởng chừng ngắn ngủi ấy, người ta bắt đầu cảm nhận được một nhịp sống khác thường ngày, khi mọi thứ đều đang dần chậm hơn, lặng hơn và sâu hơn.
Thiên nhiên gần như giữ vai trò chủ đạo ngay từ lối vào Hoa Sơn viên. Cổng tam quan không quá rộng lớn, phô trương mà chào đón du khách bằng sự dung dị và thanh đạm, qua những lối đi lát đá uốn lượn theo địa hình, xen kẽ là những dòng nước nhỏ chảy trên những tảng đá tự nhiên, được sắp đặt một cách có chủ ý của những người kiến tạo. Tất cả tạo nên cảm giác như con người đang bước vào một phần của tự nhiên, chứ không phải một công trình tách khỏi nó.
Không gian dần mở ra theo chiều cao, rộng phía xa sườn đồi, khi ở vị trí trung tâm, pho tượng Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông được tôn trí trên một thế đất cao, thoáng và mênh mang giữa mây trời. Tượng Ngài cao hàng chục mét, sắc vàng, phong thái nổi bật giữa nền xanh của rừng cây và thảm cỏ, không chỉ là điểm nhấn kiến trúc, mà còn là biểu tượng của trí tuệ và tâm Phật trong vũ trụ rộng lớn, bao la.
Phía sau tượng Phật Hoàng là một hồ nước rộng, thả nhiều hoa sen trắng, với những đàn cá nhởn nhơ bơi lượn, cỏ cây hữu tình, khung cảnh trầm mặc và tĩnh lặng như tấm gương “mặc chiếu” của Thiền tông phái Tào Động. Ở đây sự“Mặc chiếu” không có nghĩa chỉ phản chiếu không gian, thời gian, con người và cuộc đời, mà còn phản ánh nội tâm, tâm pháp của tinh hoa Phật học.
Dòng nước Thiền không chỉ là yếu tố cảnh quan, mà còn hàm chứa lớp triết lý sâu xa của người Việt, như bà Mai Thị Dần, người kiến tạo Hoa Sơn từng chia sẻ: “Nước không tranh chấp với bất cứ ai, nhưng lại là dòng chảy của đạo pháp, nuôi dưỡng sự sống của muôn loài”. Trong không gian “Thiên”, “Địa”, “Nhân” hội tụ, Thiền không còn là khái niệm mơ hồ, cao xa, mà trở nên gần gũi, mềm mại, như nước lan tỏa sức sống từ cảnh vật đến tâm thức con người.
Trải qua những phút hành lễ trang trọng trước tượng Phật hoàng uy nghi, những bậc đá đưa bước chân du khách dần lên cao hơn, mở rộng không gian Hoa Sơn với những sắp đặt hài hòa, tượng trưng cho những căn cốt của giáo lý Thiền tông.
Khuôn viên rộng, sân đá thoáng, những cây cổ thụ rợp bóng mát làm nền cho hai dãy nhà thờ tả - hữu nằm cân xứng, mang đậm phong cách kiến trúc Á Đông. Bên tả là dãy thờ các vị sư tổ tiêu biểu như Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng… những người đặt nền móng cho các dòng, phái Thiền tông Đại thừa. Bên hữu là gian thờ các thiền sư Việt Nam, những người có công với Phật giáo qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn,. Tiêu biểu như Lý Công Uẩn, Trần Thái Tông, Pháp Loa, Tuệ Trung Thượng Sĩ… không chỉ chăm chỉ tu tập, họ là những người đã tiếp biến, Việt hóa và hoằng dương đạo pháp theo tinh thần Thiền tông Việt ấy.
Trong gian thờ, những pho tượng bằng gỗ Gõ nguyên khối, cao khoảng 4m mang linh khí sống động với từng đường nét, từng dáng ngồi, ánh mắt, thần thái toát lên sự uy nghi, thể hiện bao tài hoa, khéo léo và tâm huyết của những người thợ thủ công chế tác. Không còn là những khối gỗ vô tri, mà dường như mỗi pho tượng đều mang một sắc thái tâm linh mãnh liệt, khiến những người chiêm bái có cảm giác đang đối diện với những điều có thật, hiện hữu trong lịch sử văn hóa và tâm linh. Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông ngự ở đó. Người hội tụ các dòng chảy tinh hoa của Thiền để tuâ tập và sáng tạo bản sắc riêng cho Thiền phái thuần Việt.
Xen giữa các không gian thờ tự là những bức đại tự, câu đối được chạm khắc công phu, mang đậm tinh thần Phật pháp gắn với vận mệnh và lịch sử dân tộc. Có những câu như: “Hộ quốc an dân uy linh che chở/ Giữ gìn Phật pháp trí tuệ sáng soi” hay: “Nghe rộng muôn phương khai minh chính pháp/Hộ trì tam bảo chiếu rạng trời Nam”. Đây không chỉ là những lời tán dương, công đức chư Phật, chư Tăng mà mỗi bức đại tự và câu đối ấy còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, hướng người tu tập hay hành hương về với những nhân duyên, sự tỉnh thức và rèn rũa thiện tâm. Ở tầng nhân duyên cao nhất, Thiền Việt không tách rời đời sống, mà luôn gắn với tinh thần “hộ quốc an dân” đặc trưng giác ngộ thiêng liêng, cao quý của Phật pháp hòa quyện trong tư tưởng yêu nước, đoàn kết, thương dân, nhân văn, nhân ái của người Việt.
Bước theo bậc tam cấp đến khu chính điện, từ ngoại cảnh đi vào nội tâm và sự dẫn dắt tỉnh thức đến nơi thờ tự Phật Tổ và chư Phật, Bồ tát. Ngôi chính điện mang dáng dấp kiến trúc truyền thống Việt, mái cong, lớp ngói nâu đỏ nổi bật trên nền xanh của rừng cây phía sau. Mọi bụi bặm, đời thường dường như được để lại phía sau cánh cửa gỗ chạm khắc tinh xảo. Không gian nội điện hiện ra với gam màu trầm ấm của các vật thể gỗ, điểm xuyết những chi tiết sơn son thếp vàng.
Tọa lạc giữa bàn thờ là tượng Phật Tổ Như Lai hiện lên với sắc diện từ hòa, ánh nhìn tĩnh tại, vầng hào quang hội tụ ánh sáng và tâm thức, vừa linh thiêng, vừa gần gũi với Phật tử và đại chúng. Các ban thờ Phổ Hiền và Văn Thù Bồ Tát, cũng được bài trí, cân đối trong bố cục không gian thờ tự. Những bức đại tự, câu đối thếp vàng nổi bật trên nền gỗ nâu, với những dòng chữ như “Từ bi trí tuệ”, “Phổ hiền hiện thiện tâm”… như những lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tính thiện, về bản ngã và con đường tu học.
Trước Phật đài, người người đi nhẹ, nói khẽ, thắp nén hương thơm, thành kính chắp tay, đọc những lời cầu khấn, hướng tâm mình tới “từ”, “bi”, “hỉ”, “xả”. Tiếng chuông chùa lại chậm rãi ngân lên, lan xa trong không gian và những vùng tiềm thức. Phật pháp không còn là điều được giảng giải, mà là âm thanh hiện diện một cách tự nhiên, an nhiên nhất, để con người trở nên nhẹ nhõm, lòng người lắng lại trước những gì sâu xã và lớn lao hơn cuộc sống thường ngày…
Điểm đặc sắc của Hoa Sơn Viên là bên cạnh các khu thờ tự, những khu vườn sinh thái được quy hoạch một cách có ý thức: vườn dược liệu, vườn hoa, những cây cổ thụ…như những “chứng nhân” của đất vẫn được lưu giữ và chăm sóc cẩn thận qua bàn tay con người. Quý nhất là cây Bồ đề được chính đức Đệ tam Pháp chủ, Hòa thượng Thích Phổ Tuệ cuốc đất, vun trồng trong vài lần nhân duyên đưa Ngài ghé thăm Hoa Sơn.
Đi trong không gian Thiền ấy, người ta không có cảm giác như cầu cúng hay đi lễ, cũng không mang trong mình những suy nghĩ thực dụng trước thế giới tâm linh. Mọi “Tham”, “Sân”, “Si” dường như được rũ bỏ trong cảm xúc từ thấp lên cao, từ ngoài vào trong, từ cảnh đến “Tâm”, từ “Tâm” đến “Tuệ”. Và có lẽ, điều đặc biệt nhất của Hoa Sơn Viên nằm ở chỗ, nơi đây không cố gắng “thể hiện” mình. Không gian không áp đặt, không dẫn dắt du khách bằng lời mà bằng chính cấu trúc và nhịp điệu sâu sắc, tự nhiên của nó.
Những câu kệ trong bài “Cư trần lạc đạo” của Phật Hoàng dường như lại vang lên như một sự trải nghiệm, thấu cảm về đời và đạo: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến ăn, mệt nghỉ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/Đối cảnh vô tâm mạc chi thiền”...
Khi đứng giữa vùng tâm thức đủ tĩnh, đủ lặng như mặt nước, cỏ cây, núi rừng, người ta mới chợt nhận ra: tâm Thiền không phải là một trạng thái phải đạt tới, mà là một khả năng vốn đã có sẵn trong mỗi con người, chỉ chờ được đánh thức. Hoa Sơn Viên vì thế trở thành không gian Thiền gợi mở, không nói nhiều giáo lý, không giữ người bằng sự náo nhiệt, mà bằng một sức hút đủ để người ta rời đi, nhưng rồi vẫn muốn quay lại trong những hành trình tu tập kế tiếp.
2. Một doanh nhân biết buông xả, mang tâm nguyện kiến tạo Hoa Sơn
Đến Hoa Sơn Viên mà không được gặp, tiếp xúc, uống trà, trò chuyện với bà Mai Thị Dần, người vừa kiến tạo, vừa là chủ nhân, vừa là người thủ nhang, quét dọn Hoa sơn thì lãng phí cả chuyến hành trình. Con đường đưa bà Dần đến với dự án xây dựng Hoa Sơn cũng kỳ lạ như chính cuộc đời bà: thành công, thành danh, buông xả và tu tập như chiều sâu của một sự lựa chọn, của một quá trình chuyển hóa “Tâm”, “Thức”, “Hành” từ bên trong.
Bà Mai Thị Dần, sinh năm Canh Dần và ngay từ khi chào đời đã được cha mẹ đặt cho một cái tên không phổ biến nhưng lại gắn với tên năm tuổi của mình. Các nhà Tử vi, tướng số vẫn nói “tuổi Dần” tuy vất vả, gian nan nhưng đầy sự mạnh mẽ, ý chí và bản lĩnh. Một khi người tuổt Dần quyết là làm, và làm là đến nơi đến chốn, dù phải nếm mật nằm gai hay trải qua nhiều thử thách, truân chuyên trong cuộc đời. Hành trình của bà Dần, dường như không nằm ngoài quy luật tự nhiên khó giải thích ấy.
Từng là doanh nhân thành đạt, thậm chí có người nhìn nhận bà Bà Mai Thi Dần là là “đại gia”, người chủ của những hệ sinh thái kinh doanh rộng lớn, nhiều cơ sở sản xuất, nhiều sản phẩm uy tín, thương hiệu và nguồn lực tài chính vững vàng đã đến lúc được nghỉ ngơi, hưởng thụ những thành quả lao động mà đời mình tích lũy. Ấy vậy mà ngày ngày bà Dần lại chọn cho mình công việc thật kỳ lạ: bỏ không gian đô thị, giao lại công việc kinh doanh, đi theo tiếng gọi của sự tỉnh thức hay giác ngộ nào đó. Bà tự nhận mình là cư sĩ tu tại gia. Ngày ngày 3 giờ sáng bà thức dạy, thực hành Thiền cho đến bình minh, rồi sau đó lại tự mình đi lau tượng, quét dọn sân chùa… Sự “ngộ” của bà đạt đến cảnh giới mà chỉ những những người tự mình trải nghiệm “mặc chiếu” thân, tâm mới hiểu được.
Bà Mai Thi Dần từng có nhân duyên, gặp gỡ và được thọ giáo từ cố Hòa thường Thích Phổ Tuệ (1917-2021), Đệ Tam Đức Pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Bà Dần luôn ngưỡng mộ sự giản dị, thanh tịnh và đời sống cuả một Đức Pháp chủ, vị chân tu mẫu mực nhất của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Ở chiều ngược lại, Đức Pháp chủ cũng đặc biệt quan tâm bà Mai Thị Dần, trực tiếp điểm chỉ cho bà trong hành trình đến với “Giới”, “Định”, “Tuệ”. Đặc biệt, vào năm 2012, dù tuổi đã rất cao, Đức Pháp chủ vẫn đi bộ lên núi Hoa Sơn và viết tặng Hoa Sơn 32 chữ Kim cương không đâu có: “Thanh cao thắng cảnh/ trần giới bất xâm/Quang minh tự tại/cầu đạo bồ đề/Chính đẳng chính giác/ Mây lành che khắp/Tịnh độ tự lương/ Hoa Sơn tuệ pháp”. Lưu bút của Đức Pháp chủ không chỉ là lời tặng, mà như một sự kết tinh của tinh thần giáo dục những người tu tập, định hướng mang tính triết lý và thực hành cho không gian Hoa Sơn…
Nhớ ơn Đức Pháp chủ, bà Dần đã xây dựng gian thờ nhỏ Đức Pháp chủ bên cạnh những kỷ vật như đôi dép, chiếc gậy, vài quyển kinh sách Ngài để lại nơi đây…Ai lên chiêm bái gian thờ Đức Pháp chủ cũng đều thực sự cảm động khi nhìn thấy những kỷ vật của Ngài.
Một nhân duyên đặt biệt khác của bà Dần là bà từng được Giáo sư Vũ Khiêu, nhận làm nghĩa nữ. Trong những sự đồng cảm về nhân sinh quan Phật giáo và những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc lớn lao, Giáo sư Vũ Khiêu, người thầy tinh thần của bà đã dành tặng cho bà, cho Hoa Sơn những tình cảm trân quý nhất. Trước khi qua đời, Giáo sư đã trao tặng Hoa Sơn một cuốn Kinh Kim Cương với chính những thủ bút của giáo sư như một sự gửi gắm cuối cùng về con đường tu học, giải thoát. Ngoài ra, Giáo sư còn để lại nhiều câu đối, bài thơ, những dòng chữ mang đậm chiều sâu văn hóa và triết lý, được treo trang trọng trong các không gian Hoa Sơn. Tri ân Giáo sư Vũ Khiêu, bà Dần cũng cho thiết kế một gian thờ tự và lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc với giáo sư Vũ Khiêu.
Giữa không gian trầm ấm của chính điện, bà Mai Thị Dần xuất hiện không ồn ào. Dáng người thanh mảnh, mái tóc bạc được buông tự nhiên, khuôn mặt không trang điểm nhưng sáng lên bởi thần thái và khí chất rất riêng. Bà mặc chiếc áo dài đỏ như một điểm nhấn ấm áp giữa Phật điện. Bà cầm micro, nói chậm, rõ, từng câu, từng chữ chia sẻ đạo học, một cách khiêm tốn nhưng không kém phần uyên thâm. Ánh mắt bà không hướng vào đám đông, mà dường như nhìn xa hơn đến tượng Phật Hoàng và như đang đối thoại với chính những điều đặc biệt bên trong mình.
Bà Mai Thị Dần là tinh thần của Hoa Sơn mà Hoa Sơn cũng hiện hữu trong mọi lời nói, hành động của bà. Có lần, khi nói về lựa chọn của mình, bà chỉ nói một câu rất ngắn: “Phục vụ chúng sinh cũng là cúng dường chư Phật”. Câu nói ấy, nếu đặt trong bối cảnh cuộc đời bà, không phải là một khẩu hiệu, mà là một sự chuyển hóa thực sự. Từ một người quen với việc điều hành, bà chuyển sang một vai trò khác, không là người “làm chủ”, mà tự nguyện biến mình là người “phục vụ” Hoa Sơn Viên.
Một trong những biểu hiện rõ nhất của tinh thần ấy là cách bà đón tiếp những người đến Hoa Sơn. Không có sự phân biệt sang hèn, không có khoảng cách giữa người tu tập và đại chúng. Những người từng đến đây đều rất ấn tượng khi thấy bà lão gần “bát thập cổ lai hi” tự tay nấu những bữa cơm chay, giản dị nhưng tinh tế tiếp đón thực khách. Bà Dần nấu cỗ chay rất ngon, bà cũng thường gửi gắm những thông điệp Thiền vào ẩm thực Hoa sơn như chính tình thần “mặc chiếu” đầy sáng tạo của mình.
Nhìn vào hành trình của bà Dần, có thể cảm nhận Hoa Sơn Viên ở một khía cạnh khác - một Không gian văn hóa được kiến tạo qua quá trình tích lũy, không chỉ về vật chất, mà về sự trải nghiệm, nhận thứccủa một cá nhân trên con đường đến với Đạo.
3. Hoa Sơn, điểm dừng chân hay không gian sáng tạo và tiếp biến văn hóa của Phật giáo
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, đời sống thực hành văn hóa, tâm linh cũng có nhiều biến động, nhiều câu chuyện gây tranh cãi. Nhu cầu tìm về chốn tôn giáo, tín ngưỡng tăng lên rõ rệt, nhưng đi cùng với đó là những biểu hiện khiến nhiều người trăn trở: sự phô trương về hình thức, xu hướng biến tướng, thương mại hóa các hoạt động tâm linh, hay việc biến không gian tôn giáo thành những điểm đến mang nặng tính dịch vụ đang diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lúc.
Chính trong bối cảnh ấy, Hoa Sơn Tịnh Thất lại trở nên đáng chú ý, bởi nơi đây không thu phí, không thu lễ, không làm bất kỳ “dịch vụ” tâm linh nào. Mọi người có thể đến với Hoa sơn bằng Phật tâm của mình.
Tháng 3/2026, trong chương trình công tác đặc biệt, Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã có chuyến nghiên cứu và khảo sát Hoa Sơn Viên. Các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam như GS. TS Đặng Cảnh Khanh, GS. TS Lê Thị Quý, PGS. TS Đặng Văn Bài, PGS.TS Phạm Duy Đức, PGS. TS Vũ Mạnh Lợi, TS Đặng Vũ Cảnh Linh, TS Đỗ Thị Kim Anh…đã có nhiều ấn tượng tốt đẹp về Hoa Sơn và nhận định đây là không gian “thuần khiết” của Thiền mà chúng ta không dễ tìm thấy.
Sự “thuần khiết” ấy không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là sự thể hiện rất cụ thể trong cách vận hành của không gian Hoa Sơn. Không có những hàng quán chen lấn, không có những dịch vụ mang tính thương mại bao quanh khu thờ tự, không có cảm giác ồn ào, xô bồ. Người đến Hoa Sơn không bị cuốn vào những “trải nghiệm được thiết kế sẵn”, mà được tự do, tự cảm nhận, tự “hành” Thiền trên những bước đi của chính mình
Điều này cũng thể hiện rõ trong cách tổ chức các hoạt động tôn giáo của Hoa Sơn, đặc biệt là lễ Phật đản. Nghi lễ được tổ chức trang nghiêm, nhưng không phô trương, số lượng người tham gia không quá lớn, nhưng đủ để tạo nên một không khí ấm cúng và tập trung. Người ta tham dự không chỉ “dự lễ”, mà thực sự tham gia thực hành, trải nghiệm trong không gian Thiền thuần Việt như một nhà nghiên cứu trong đoàn đã chia sẻ đáng chú ý: “Hoa Sơn giữ được không gian thuần khiết như thế này khó hơn nhiều so với đầu tư, xây dựng một công trình lớn mà để triển khai các dịch vụ hay thương mại”. Nhận định ấy, nếu nhìn rộng ra, phản ánh một vấn đề lớn hơn của đời sống văn hóa hiện nay giữa việc phát triển kinh tế hay giữ gìn giá trị văn hóa.
Một cảm nhận mơ hồ về Thiền, về “Phật tại tâm”, nhưng cũng có thể chỉ là một khoảnh khắc lặng lẽ để đối diện với chính mình trong dòng chảy vô thường của đời sống. Và vì thế, Hoa Sơn không phải là nơi để “đi một lần cho biết”, mà là nơi có thể trở lại, vào một thời điểm nào đó trên hành trình mỗi người tìm kiếm sự bình an và tỉnh thức.
Ở phía trước, Hoa Sơn vẫn đang tiếp tục được bồi đắp, với những dự định như xây dựng bảo tàng dược liệu, phát triển các sản phẩm Đông y, hình thành không gian thăm khám, chữa bệnh, cứu người. Đó không chỉ là sự mở rộng về không gian, mà là sự nối dài của tâm nguyện của bà Mai Thị Dần: đem đạo vào đời, để những giá trị tinh thần có thể chạm đến con người ngày càng thiết thực và nhân văn hơn. Và có lẽ, Hoa Sơn không giữ người, cũng như rất khó gọi tên những cảm giác khi chúng ta bước vào thế giới Thiền. Khi rời đi, dường như ai cũng tự mang theo cho mình một thứ gì đó như bài học về cuộc sống, bài học từ chính mình, và chờ đợi một khoảnh khắc nào đó để trở lại.
Ẩn mình giữa khu rừng và đồi thuộc thôn Thanh Hà, xã Trung Giã, Sóc Sơn (Hà Nội), một Tịnh Thất xuất hiện không phải là ngôi chùa theo nghĩa thông thường, mà là không gian tu học được kiến tạo như một “Thiền cảnh” sống động. Ở đó thiên nhiên, kiến trúc và tinh thần Phật giáo hòa quyện thành một chỉnh thể có chiều sâu và thống nhất.
Từ trung tâm Hà Nội, nếu xuất phát từ hồ Hoàn Kiếm, quãng đường đến Hoa Sơn vào khoảng hơn 40 km, theo hướng cầu Nhật Tân - sân bay Nội Bài, men theo trục bên trái Sóc Sơn, qua Phủ Thành Chương vài kilômét là có thể chạm vào cửa ngõ Hoa Sơn Viên.
Chỉ hơn một giờ di chuyển, nhưng những lớp nhà cao tầng lặng lẽ lùi lại phía sau, nhường chỗ cho đồi núi, rừng cây và những khoảng trời mở rộng. Con đường dẫn vào Hoa Sơn chào đón khách thập phương là sự đổi nhịp từ đô thị ồn ào sang không gian thiên nhiên tĩnh lặng, thư thái, nơi mọi khoảng cách không gian, thời gian dường như được thu lại gần hơn. Và chính trong sự dịch chuyển địa lý tưởng chừng ngắn ngủi ấy, người ta bắt đầu cảm nhận được một nhịp sống khác thường ngày, khi mọi thứ đều đang dần chậm hơn, lặng hơn và sâu hơn.


Đường vào Hoa Sơn

Đoàn Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển thăm Hoa Sơn
Thiên nhiên gần như giữ vai trò chủ đạo ngay từ lối vào Hoa Sơn viên. Cổng tam quan không quá rộng lớn, phô trương mà chào đón du khách bằng sự dung dị và thanh đạm, qua những lối đi lát đá uốn lượn theo địa hình, xen kẽ là những dòng nước nhỏ chảy trên những tảng đá tự nhiên, được sắp đặt một cách có chủ ý của những người kiến tạo. Tất cả tạo nên cảm giác như con người đang bước vào một phần của tự nhiên, chứ không phải một công trình tách khỏi nó.
Không gian dần mở ra theo chiều cao, rộng phía xa sườn đồi, khi ở vị trí trung tâm, pho tượng Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông được tôn trí trên một thế đất cao, thoáng và mênh mang giữa mây trời. Tượng Ngài cao hàng chục mét, sắc vàng, phong thái nổi bật giữa nền xanh của rừng cây và thảm cỏ, không chỉ là điểm nhấn kiến trúc, mà còn là biểu tượng của trí tuệ và tâm Phật trong vũ trụ rộng lớn, bao la.

Tượng thờ Đức Phật Hoàng trên Hoa Sơn
Phía sau tượng Phật Hoàng là một hồ nước rộng, thả nhiều hoa sen trắng, với những đàn cá nhởn nhơ bơi lượn, cỏ cây hữu tình, khung cảnh trầm mặc và tĩnh lặng như tấm gương “mặc chiếu” của Thiền tông phái Tào Động. Ở đây sự“Mặc chiếu” không có nghĩa chỉ phản chiếu không gian, thời gian, con người và cuộc đời, mà còn phản ánh nội tâm, tâm pháp của tinh hoa Phật học.
Dòng nước Thiền không chỉ là yếu tố cảnh quan, mà còn hàm chứa lớp triết lý sâu xa của người Việt, như bà Mai Thị Dần, người kiến tạo Hoa Sơn từng chia sẻ: “Nước không tranh chấp với bất cứ ai, nhưng lại là dòng chảy của đạo pháp, nuôi dưỡng sự sống của muôn loài”. Trong không gian “Thiên”, “Địa”, “Nhân” hội tụ, Thiền không còn là khái niệm mơ hồ, cao xa, mà trở nên gần gũi, mềm mại, như nước lan tỏa sức sống từ cảnh vật đến tâm thức con người.
Trải qua những phút hành lễ trang trọng trước tượng Phật hoàng uy nghi, những bậc đá đưa bước chân du khách dần lên cao hơn, mở rộng không gian Hoa Sơn với những sắp đặt hài hòa, tượng trưng cho những căn cốt của giáo lý Thiền tông.
Khuôn viên rộng, sân đá thoáng, những cây cổ thụ rợp bóng mát làm nền cho hai dãy nhà thờ tả - hữu nằm cân xứng, mang đậm phong cách kiến trúc Á Đông. Bên tả là dãy thờ các vị sư tổ tiêu biểu như Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng… những người đặt nền móng cho các dòng, phái Thiền tông Đại thừa. Bên hữu là gian thờ các thiền sư Việt Nam, những người có công với Phật giáo qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn,. Tiêu biểu như Lý Công Uẩn, Trần Thái Tông, Pháp Loa, Tuệ Trung Thượng Sĩ… không chỉ chăm chỉ tu tập, họ là những người đã tiếp biến, Việt hóa và hoằng dương đạo pháp theo tinh thần Thiền tông Việt ấy.
Trong gian thờ, những pho tượng bằng gỗ Gõ nguyên khối, cao khoảng 4m mang linh khí sống động với từng đường nét, từng dáng ngồi, ánh mắt, thần thái toát lên sự uy nghi, thể hiện bao tài hoa, khéo léo và tâm huyết của những người thợ thủ công chế tác. Không còn là những khối gỗ vô tri, mà dường như mỗi pho tượng đều mang một sắc thái tâm linh mãnh liệt, khiến những người chiêm bái có cảm giác đang đối diện với những điều có thật, hiện hữu trong lịch sử văn hóa và tâm linh. Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông ngự ở đó. Người hội tụ các dòng chảy tinh hoa của Thiền để tuâ tập và sáng tạo bản sắc riêng cho Thiền phái thuần Việt.
Xen giữa các không gian thờ tự là những bức đại tự, câu đối được chạm khắc công phu, mang đậm tinh thần Phật pháp gắn với vận mệnh và lịch sử dân tộc. Có những câu như: “Hộ quốc an dân uy linh che chở/ Giữ gìn Phật pháp trí tuệ sáng soi” hay: “Nghe rộng muôn phương khai minh chính pháp/Hộ trì tam bảo chiếu rạng trời Nam”. Đây không chỉ là những lời tán dương, công đức chư Phật, chư Tăng mà mỗi bức đại tự và câu đối ấy còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, hướng người tu tập hay hành hương về với những nhân duyên, sự tỉnh thức và rèn rũa thiện tâm. Ở tầng nhân duyên cao nhất, Thiền Việt không tách rời đời sống, mà luôn gắn với tinh thần “hộ quốc an dân” đặc trưng giác ngộ thiêng liêng, cao quý của Phật pháp hòa quyện trong tư tưởng yêu nước, đoàn kết, thương dân, nhân văn, nhân ái của người Việt.

Chính điện Hoa Sơn viên

Gian thờ các Thiền sư Việt Nam

Đoàn Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển thăm Hoa Sơn tháng 3/2026

Gian thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông
Bước theo bậc tam cấp đến khu chính điện, từ ngoại cảnh đi vào nội tâm và sự dẫn dắt tỉnh thức đến nơi thờ tự Phật Tổ và chư Phật, Bồ tát. Ngôi chính điện mang dáng dấp kiến trúc truyền thống Việt, mái cong, lớp ngói nâu đỏ nổi bật trên nền xanh của rừng cây phía sau. Mọi bụi bặm, đời thường dường như được để lại phía sau cánh cửa gỗ chạm khắc tinh xảo. Không gian nội điện hiện ra với gam màu trầm ấm của các vật thể gỗ, điểm xuyết những chi tiết sơn son thếp vàng.
Tọa lạc giữa bàn thờ là tượng Phật Tổ Như Lai hiện lên với sắc diện từ hòa, ánh nhìn tĩnh tại, vầng hào quang hội tụ ánh sáng và tâm thức, vừa linh thiêng, vừa gần gũi với Phật tử và đại chúng. Các ban thờ Phổ Hiền và Văn Thù Bồ Tát, cũng được bài trí, cân đối trong bố cục không gian thờ tự. Những bức đại tự, câu đối thếp vàng nổi bật trên nền gỗ nâu, với những dòng chữ như “Từ bi trí tuệ”, “Phổ hiền hiện thiện tâm”… như những lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tính thiện, về bản ngã và con đường tu học.
Trước Phật đài, người người đi nhẹ, nói khẽ, thắp nén hương thơm, thành kính chắp tay, đọc những lời cầu khấn, hướng tâm mình tới “từ”, “bi”, “hỉ”, “xả”. Tiếng chuông chùa lại chậm rãi ngân lên, lan xa trong không gian và những vùng tiềm thức. Phật pháp không còn là điều được giảng giải, mà là âm thanh hiện diện một cách tự nhiên, an nhiên nhất, để con người trở nên nhẹ nhõm, lòng người lắng lại trước những gì sâu xã và lớn lao hơn cuộc sống thường ngày…
Điểm đặc sắc của Hoa Sơn Viên là bên cạnh các khu thờ tự, những khu vườn sinh thái được quy hoạch một cách có ý thức: vườn dược liệu, vườn hoa, những cây cổ thụ…như những “chứng nhân” của đất vẫn được lưu giữ và chăm sóc cẩn thận qua bàn tay con người. Quý nhất là cây Bồ đề được chính đức Đệ tam Pháp chủ, Hòa thượng Thích Phổ Tuệ cuốc đất, vun trồng trong vài lần nhân duyên đưa Ngài ghé thăm Hoa Sơn.
Đi trong không gian Thiền ấy, người ta không có cảm giác như cầu cúng hay đi lễ, cũng không mang trong mình những suy nghĩ thực dụng trước thế giới tâm linh. Mọi “Tham”, “Sân”, “Si” dường như được rũ bỏ trong cảm xúc từ thấp lên cao, từ ngoài vào trong, từ cảnh đến “Tâm”, từ “Tâm” đến “Tuệ”. Và có lẽ, điều đặc biệt nhất của Hoa Sơn Viên nằm ở chỗ, nơi đây không cố gắng “thể hiện” mình. Không gian không áp đặt, không dẫn dắt du khách bằng lời mà bằng chính cấu trúc và nhịp điệu sâu sắc, tự nhiên của nó.
Những câu kệ trong bài “Cư trần lạc đạo” của Phật Hoàng dường như lại vang lên như một sự trải nghiệm, thấu cảm về đời và đạo: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến ăn, mệt nghỉ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/Đối cảnh vô tâm mạc chi thiền”...

Hoa Sơn Thanh tịnh
Khi đứng giữa vùng tâm thức đủ tĩnh, đủ lặng như mặt nước, cỏ cây, núi rừng, người ta mới chợt nhận ra: tâm Thiền không phải là một trạng thái phải đạt tới, mà là một khả năng vốn đã có sẵn trong mỗi con người, chỉ chờ được đánh thức. Hoa Sơn Viên vì thế trở thành không gian Thiền gợi mở, không nói nhiều giáo lý, không giữ người bằng sự náo nhiệt, mà bằng một sức hút đủ để người ta rời đi, nhưng rồi vẫn muốn quay lại trong những hành trình tu tập kế tiếp.
2. Một doanh nhân biết buông xả, mang tâm nguyện kiến tạo Hoa Sơn
Đến Hoa Sơn Viên mà không được gặp, tiếp xúc, uống trà, trò chuyện với bà Mai Thị Dần, người vừa kiến tạo, vừa là chủ nhân, vừa là người thủ nhang, quét dọn Hoa sơn thì lãng phí cả chuyến hành trình. Con đường đưa bà Dần đến với dự án xây dựng Hoa Sơn cũng kỳ lạ như chính cuộc đời bà: thành công, thành danh, buông xả và tu tập như chiều sâu của một sự lựa chọn, của một quá trình chuyển hóa “Tâm”, “Thức”, “Hành” từ bên trong.
Bà Mai Thị Dần, sinh năm Canh Dần và ngay từ khi chào đời đã được cha mẹ đặt cho một cái tên không phổ biến nhưng lại gắn với tên năm tuổi của mình. Các nhà Tử vi, tướng số vẫn nói “tuổi Dần” tuy vất vả, gian nan nhưng đầy sự mạnh mẽ, ý chí và bản lĩnh. Một khi người tuổt Dần quyết là làm, và làm là đến nơi đến chốn, dù phải nếm mật nằm gai hay trải qua nhiều thử thách, truân chuyên trong cuộc đời. Hành trình của bà Dần, dường như không nằm ngoài quy luật tự nhiên khó giải thích ấy.
Từng là doanh nhân thành đạt, thậm chí có người nhìn nhận bà Bà Mai Thi Dần là là “đại gia”, người chủ của những hệ sinh thái kinh doanh rộng lớn, nhiều cơ sở sản xuất, nhiều sản phẩm uy tín, thương hiệu và nguồn lực tài chính vững vàng đã đến lúc được nghỉ ngơi, hưởng thụ những thành quả lao động mà đời mình tích lũy. Ấy vậy mà ngày ngày bà Dần lại chọn cho mình công việc thật kỳ lạ: bỏ không gian đô thị, giao lại công việc kinh doanh, đi theo tiếng gọi của sự tỉnh thức hay giác ngộ nào đó. Bà tự nhận mình là cư sĩ tu tại gia. Ngày ngày 3 giờ sáng bà thức dạy, thực hành Thiền cho đến bình minh, rồi sau đó lại tự mình đi lau tượng, quét dọn sân chùa… Sự “ngộ” của bà đạt đến cảnh giới mà chỉ những những người tự mình trải nghiệm “mặc chiếu” thân, tâm mới hiểu được.
Bà Mai Thi Dần từng có nhân duyên, gặp gỡ và được thọ giáo từ cố Hòa thường Thích Phổ Tuệ (1917-2021), Đệ Tam Đức Pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Bà Dần luôn ngưỡng mộ sự giản dị, thanh tịnh và đời sống cuả một Đức Pháp chủ, vị chân tu mẫu mực nhất của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Ở chiều ngược lại, Đức Pháp chủ cũng đặc biệt quan tâm bà Mai Thị Dần, trực tiếp điểm chỉ cho bà trong hành trình đến với “Giới”, “Định”, “Tuệ”. Đặc biệt, vào năm 2012, dù tuổi đã rất cao, Đức Pháp chủ vẫn đi bộ lên núi Hoa Sơn và viết tặng Hoa Sơn 32 chữ Kim cương không đâu có: “Thanh cao thắng cảnh/ trần giới bất xâm/Quang minh tự tại/cầu đạo bồ đề/Chính đẳng chính giác/ Mây lành che khắp/Tịnh độ tự lương/ Hoa Sơn tuệ pháp”. Lưu bút của Đức Pháp chủ không chỉ là lời tặng, mà như một sự kết tinh của tinh thần giáo dục những người tu tập, định hướng mang tính triết lý và thực hành cho không gian Hoa Sơn…

Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ trồng cây Bồ đề tại Hoa Sơn
Nhớ ơn Đức Pháp chủ, bà Dần đã xây dựng gian thờ nhỏ Đức Pháp chủ bên cạnh những kỷ vật như đôi dép, chiếc gậy, vài quyển kinh sách Ngài để lại nơi đây…Ai lên chiêm bái gian thờ Đức Pháp chủ cũng đều thực sự cảm động khi nhìn thấy những kỷ vật của Ngài.

Nhà báo Hàn Vũ Linh nâng cây gậy thường ngày của Đức Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ dùng lúc sinh thời
Một nhân duyên đặt biệt khác của bà Dần là bà từng được Giáo sư Vũ Khiêu, nhận làm nghĩa nữ. Trong những sự đồng cảm về nhân sinh quan Phật giáo và những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc lớn lao, Giáo sư Vũ Khiêu, người thầy tinh thần của bà đã dành tặng cho bà, cho Hoa Sơn những tình cảm trân quý nhất. Trước khi qua đời, Giáo sư đã trao tặng Hoa Sơn một cuốn Kinh Kim Cương với chính những thủ bút của giáo sư như một sự gửi gắm cuối cùng về con đường tu học, giải thoát. Ngoài ra, Giáo sư còn để lại nhiều câu đối, bài thơ, những dòng chữ mang đậm chiều sâu văn hóa và triết lý, được treo trang trọng trong các không gian Hoa Sơn. Tri ân Giáo sư Vũ Khiêu, bà Dần cũng cho thiết kế một gian thờ tự và lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc với giáo sư Vũ Khiêu.

Bà Mai Thị Dần và câu đối Giáo sư Vũ Khiêu tặng Hoa Sơn Viên
Giữa không gian trầm ấm của chính điện, bà Mai Thị Dần xuất hiện không ồn ào. Dáng người thanh mảnh, mái tóc bạc được buông tự nhiên, khuôn mặt không trang điểm nhưng sáng lên bởi thần thái và khí chất rất riêng. Bà mặc chiếc áo dài đỏ như một điểm nhấn ấm áp giữa Phật điện. Bà cầm micro, nói chậm, rõ, từng câu, từng chữ chia sẻ đạo học, một cách khiêm tốn nhưng không kém phần uyên thâm. Ánh mắt bà không hướng vào đám đông, mà dường như nhìn xa hơn đến tượng Phật Hoàng và như đang đối thoại với chính những điều đặc biệt bên trong mình.

Bà Mai Thị Dần
Bà Mai Thị Dần là tinh thần của Hoa Sơn mà Hoa Sơn cũng hiện hữu trong mọi lời nói, hành động của bà. Có lần, khi nói về lựa chọn của mình, bà chỉ nói một câu rất ngắn: “Phục vụ chúng sinh cũng là cúng dường chư Phật”. Câu nói ấy, nếu đặt trong bối cảnh cuộc đời bà, không phải là một khẩu hiệu, mà là một sự chuyển hóa thực sự. Từ một người quen với việc điều hành, bà chuyển sang một vai trò khác, không là người “làm chủ”, mà tự nguyện biến mình là người “phục vụ” Hoa Sơn Viên.
Một trong những biểu hiện rõ nhất của tinh thần ấy là cách bà đón tiếp những người đến Hoa Sơn. Không có sự phân biệt sang hèn, không có khoảng cách giữa người tu tập và đại chúng. Những người từng đến đây đều rất ấn tượng khi thấy bà lão gần “bát thập cổ lai hi” tự tay nấu những bữa cơm chay, giản dị nhưng tinh tế tiếp đón thực khách. Bà Dần nấu cỗ chay rất ngon, bà cũng thường gửi gắm những thông điệp Thiền vào ẩm thực Hoa sơn như chính tình thần “mặc chiếu” đầy sáng tạo của mình.
Nhìn vào hành trình của bà Dần, có thể cảm nhận Hoa Sơn Viên ở một khía cạnh khác - một Không gian văn hóa được kiến tạo qua quá trình tích lũy, không chỉ về vật chất, mà về sự trải nghiệm, nhận thứccủa một cá nhân trên con đường đến với Đạo.
3. Hoa Sơn, điểm dừng chân hay không gian sáng tạo và tiếp biến văn hóa của Phật giáo
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, đời sống thực hành văn hóa, tâm linh cũng có nhiều biến động, nhiều câu chuyện gây tranh cãi. Nhu cầu tìm về chốn tôn giáo, tín ngưỡng tăng lên rõ rệt, nhưng đi cùng với đó là những biểu hiện khiến nhiều người trăn trở: sự phô trương về hình thức, xu hướng biến tướng, thương mại hóa các hoạt động tâm linh, hay việc biến không gian tôn giáo thành những điểm đến mang nặng tính dịch vụ đang diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lúc.
Chính trong bối cảnh ấy, Hoa Sơn Tịnh Thất lại trở nên đáng chú ý, bởi nơi đây không thu phí, không thu lễ, không làm bất kỳ “dịch vụ” tâm linh nào. Mọi người có thể đến với Hoa sơn bằng Phật tâm của mình.

Tháng 3/2026, trong chương trình công tác đặc biệt, Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã có chuyến nghiên cứu và khảo sát Hoa Sơn Viên. Các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam như GS. TS Đặng Cảnh Khanh, GS. TS Lê Thị Quý, PGS. TS Đặng Văn Bài, PGS.TS Phạm Duy Đức, PGS. TS Vũ Mạnh Lợi, TS Đặng Vũ Cảnh Linh, TS Đỗ Thị Kim Anh…đã có nhiều ấn tượng tốt đẹp về Hoa Sơn và nhận định đây là không gian “thuần khiết” của Thiền mà chúng ta không dễ tìm thấy.
Sự “thuần khiết” ấy không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là sự thể hiện rất cụ thể trong cách vận hành của không gian Hoa Sơn. Không có những hàng quán chen lấn, không có những dịch vụ mang tính thương mại bao quanh khu thờ tự, không có cảm giác ồn ào, xô bồ. Người đến Hoa Sơn không bị cuốn vào những “trải nghiệm được thiết kế sẵn”, mà được tự do, tự cảm nhận, tự “hành” Thiền trên những bước đi của chính mình
Điều này cũng thể hiện rõ trong cách tổ chức các hoạt động tôn giáo của Hoa Sơn, đặc biệt là lễ Phật đản. Nghi lễ được tổ chức trang nghiêm, nhưng không phô trương, số lượng người tham gia không quá lớn, nhưng đủ để tạo nên một không khí ấm cúng và tập trung. Người ta tham dự không chỉ “dự lễ”, mà thực sự tham gia thực hành, trải nghiệm trong không gian Thiền thuần Việt như một nhà nghiên cứu trong đoàn đã chia sẻ đáng chú ý: “Hoa Sơn giữ được không gian thuần khiết như thế này khó hơn nhiều so với đầu tư, xây dựng một công trình lớn mà để triển khai các dịch vụ hay thương mại”. Nhận định ấy, nếu nhìn rộng ra, phản ánh một vấn đề lớn hơn của đời sống văn hóa hiện nay giữa việc phát triển kinh tế hay giữ gìn giá trị văn hóa.

Giáo sư Đặng Cảnh Khanh chia sẻ cảm nhận về Hoa Sơn Viên

Giáo sư Đặng Cảnh Khanh tặng Hoa Sơn Viên Bức tranh thư pháp về Phật Hoàng Trần Nhân Tông do Giáo sư thủ bút
Có lẽ, điều đáng quý nhất của Hoa Sơn không nằm ở hình hài của một không gian có thể nhìn thấy, mà ở chỗ nó không chấp nhận trở thành một “dịch vụ”, càng không phải là một “mô hình” có thể sao chép. Những gì đọng lại sau khi rời Hoa Sơn không phải là một hình ảnh cụ thể, mà là những cảm giác rất nhẹ nhưng đủ rõ để người ta nhận ra mình đã đi qua một điều gì đó khác biệt.Một cảm nhận mơ hồ về Thiền, về “Phật tại tâm”, nhưng cũng có thể chỉ là một khoảnh khắc lặng lẽ để đối diện với chính mình trong dòng chảy vô thường của đời sống. Và vì thế, Hoa Sơn không phải là nơi để “đi một lần cho biết”, mà là nơi có thể trở lại, vào một thời điểm nào đó trên hành trình mỗi người tìm kiếm sự bình an và tỉnh thức.
Ở phía trước, Hoa Sơn vẫn đang tiếp tục được bồi đắp, với những dự định như xây dựng bảo tàng dược liệu, phát triển các sản phẩm Đông y, hình thành không gian thăm khám, chữa bệnh, cứu người. Đó không chỉ là sự mở rộng về không gian, mà là sự nối dài của tâm nguyện của bà Mai Thị Dần: đem đạo vào đời, để những giá trị tinh thần có thể chạm đến con người ngày càng thiết thực và nhân văn hơn. Và có lẽ, Hoa Sơn không giữ người, cũng như rất khó gọi tên những cảm giác khi chúng ta bước vào thế giới Thiền. Khi rời đi, dường như ai cũng tự mang theo cho mình một thứ gì đó như bài học về cuộc sống, bài học từ chính mình, và chờ đợi một khoảnh khắc nào đó để trở lại.

Bà Mai Thị Dần và nhà báo Hàn Vũ Linh

Phía sau tượng Phật Hoàng
Và có lẽ, Hoa Sơn không giữ người, cũng như những cảm giác khi bước vào thế giới Thiền vốn khó gọi tên. Chỉ biết rằng khi rời đi, ai cũng mang theo một điều gì đó rất thiêng liêng mà cũng rất riêng, đôi khi chỉ đơn giản là một sự nhận ra, để rồi, trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc sống, chúng ta lại muốn quay trở lại.