Tin90p.com - Doanh nhân Việt Nam và khát vọng làm giàu cho đất nước

Đăng lúc: 2026-10-07 14:54:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 0 | Chuyên mục: Pháp luật

Trong kỷ nguyên mới, đội ngũ doanh nhân không chỉ được nhìn nhận từ giá trị lợi nhuận hay quy mô doanh nghiệp, mà còn từ năng lực kiến tạo giá trị, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu Việt và đóng góp vào sức mạnh của nền kinh tế.

Để khát vọng ấy trở thành động lực phát triển, một môi trường pháp lý, kinh doanh ổn định, minh bạch và bảo đảm an toàn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nghị quyết 41-NQ/TW xác định doanh nhân là lực lượng nòng cốt thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Tiếp đó, Nghị quyết 68-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, đặt yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đông về số lượng mà còn mạnh về năng lực cạnh tranh, công nghệ, thị trường và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hiện nay, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang mở thêm một không gian phát triển mới cho doanh nhân Việt Nam.

Nếu khởi nghiệp truyền thống thường bắt đầu từ việc tìm kiếm một thị trường và tổ chức nguồn lực để kinh doanh, thì khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đòi hỏi doanh nghiệp tạo ra sản phẩm, công nghệ, quy trình hoặc mô hình kinh doanh có khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới, có thể nhân rộng và tạo giá trị gia tăng cao.

Ông Nguyễn Duy Khương ký kết hợp tác với doanh nghiệp.

Từ sản xuất, nông nghiệp, logistics, thương mại đến dịch vụ, doanh nghiệp đều có thể đổi mới thông qua số hóa quy trình, ứng dụng dữ liệu, tự động hóa, phát triển sản phẩm mới, nâng hiệu quả quản trị hoặc tổ chức lại chuỗi cung ứng.

Chính khả năng liên tục cải tiến và tạo ra giá trị mới sẽ quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong một thị trường thay đổi nhanh.

Xung quanh vấn đề này, Phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam trao đổi với ông Nguyễn Duy Khương - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TP Đồng Nai; Phó Chủ tịch CLB Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Doanh nhân trẻ Việt Nam (VINATIPC); Ủy viên Đoàn Chủ tịch CLB Đầu tư & Khởi nghiệp Doanh nhân trẻ Việt Nam về vai trò của đội ngũ doanh nhân, yêu cầu xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động kinh doanh, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khát vọng làm giàu chính đáng, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Phóng viên: Nghị quyết 41-NQ/TW xác định doanh nhân là một trong những lực lượng nòng cốt trong quá trình phát triển đất nước. Theo ông, cần nhìn nhận vị trí của doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thế nào?

Ông Nguyễn Duy Khương: Trước hết, tôi cho rằng cần nhìn doanh nhân trong mối quan hệ trực tiếp với năng lực phát triển của nền kinh tế.

Doanh nhân là người tổ chức vốn, lao động, công nghệ và các nguồn lực xã hội để tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng.

Mỗi quyết định đầu tư đúng có thể hình thành một nhà máy, một chuỗi cung ứng, một thị trường mới và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Khi doanh nghiệp đủ lớn, giá trị ấy còn thể hiện ở khả năng làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm Việt Nam tham gia thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hiện nay, vai trò đó còn thể hiện ở khả năng phát hiện vấn đề mới của thị trường và chuyển những vấn đề ấy thành sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới.

Một doanh nghiệp khởi nghiệp có thể bắt đầu từ quy mô rất nhỏ, nhưng nếu có công nghệ, tài sản trí tuệ, dữ liệu và mô hình có khả năng mở rộng thì giá trị tạo ra có thể lớn hơn nhiều so với quy mô vốn ban đầu.

Vì vậy, vai trò của doanh nhân ngày nay không nên chỉ được đánh giá bằng doanh thu hay lợi nhuận.

Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế, đóng góp như thế nào vào năng suất lao động, năng lực công nghệ, ngân sách, việc làm và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Nghị quyết 41 đặt đội ngũ doanh nhân trong một vị trí rộng hơn chính là ở ý nghĩa đó. Đất nước muốn có một nền kinh tế mạnh thì phải có những doanh nghiệp mạnh.

Muốn có những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh với khu vực và thế giới thì phải hình thành một thế hệ doanh nhân có khát vọng lớn, năng lực quản trị, khả năng đổi mới, văn hóa kinh doanh và ý thức trách nhiệm đối với quốc gia.

Đổi mới sáng tạo nâng sức cạnh tranh doanh nghiệp.

Phóng viên: Vậy “khát vọng làm giàu cho đất nước” của doanh nhân nên được hiểu như thế nào để không trở thành một khẩu hiệu mang tính hình thức?

Ông Nguyễn Duy Khương: Làm giàu cho đất nước trước hết phải bắt đầu từ việc làm giàu chính đáng cho doanh nghiệp, người lao động và xã hội.

Không nên đặt lợi ích của doanh nghiệp đối lập với lợi ích quốc gia. Một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, tạo việc làm, đầu tư công nghệ, nâng năng suất, bảo đảm quyền lợi người lao động và xây dựng được thương hiệu Việt Nam chính là đang đóng góp trực tiếp vào sự thịnh vượng của đất nước. Điều cốt lõi nằm ở cách doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận.

Nếu lợi nhuận hình thành từ năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị tốt và năng lực cạnh tranh thì sự lớn mạnh của doanh nghiệp đồng thời làm tăng năng lực của nền kinh tế.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp phát triển dựa trên khai thác tài nguyên thiếu bền vững, quan hệ đặc quyền hoặc những lợi thế không bình đẳng thì quy mô lớn chưa chắc đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, khát vọng lớn phải đi cùng năng lực thực chất.

Doanh nhân Việt Nam cần hướng tới những thị trường lớn hơn, những ngành có giá trị gia tăng cao hơn, từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thương hiệu và các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng.

Việt Nam không thể chỉ dừng ở vị trí gia công hoặc đảm nhiệm những công đoạn có giá trị thấp nếu muốn xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao.

Theo tôi, một thế hệ doanh nhân mang khát vọng quốc gia phải trả lời được câu hỏi: doanh nghiệp của mình sẽ đóng góp thêm năng lực gì cho nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm, 20 năm tới?

Phóng viên: Trong giai đoạn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngày càng được quan tâm, theo ông, đâu là yếu tố quyết định để một doanh nghiệp khởi nghiệp có thể phát triển bền vững thay vì chỉ tăng trưởng trong thời gian ngắn?

Ông Nguyễn Duy Khương: Theo tôi, trước hết phải phân biệt rõ giữa khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Không phải doanh nghiệp mới thành lập nào cũng là doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Một mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có yếu tố mới đủ rõ, có khả năng giải quyết một nhu cầu thực tế của thị trường và quan trọng hơn là có khả năng mở rộng.

Yếu tố mới có thể nằm ở công nghệ, sản phẩm, quy trình, dữ liệu, cách tổ chức thị trường hoặc mô hình kinh doanh. Nhưng nếu chỉ có ý tưởng mà không kiểm chứng được nhu cầu thị trường, không có năng lực quản trị và không kiểm soát được dòng tiền thì doanh nghiệp rất khó đi xa.

Tôi cho rằng các doanh nghiệp khởi nghiệp hiện nay cần đặc biệt chú ý ba vấn đề.

Thứ nhất là năng lực tạo ra giá trị thực. Một sản phẩm mới phải giải quyết được một vấn đề cụ thể của khách hàng. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi làm cho sản phẩm tốt hơn, chi phí thấp hơn, dịch vụ nhanh hơn hoặc tạo ra một trải nghiệm mà thị trường sẵn sàng trả tiền.

Thứ hai là khả năng quản trị tăng trưởng. Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp tập trung rất lớn vào gọi vốn, mở rộng người dùng hoặc tăng doanh thu nhưng lại chưa chuẩn bị đầy đủ về quản trị tài chính, nhân sự, hợp đồng, sở hữu trí tuệ và kiểm soát nội bộ. Khi doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, những điểm yếu này sẽ bộc lộ rất rõ.

Thứ ba là nền tảng pháp lý. Ngay từ giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải xác định rõ quyền sở hữu đối với công nghệ, phần mềm, nhãn hiệu, sáng chế, dữ liệu và các tài sản trí tuệ khác.

Quan hệ giữa các nhà sáng lập, cơ chế góp vốn, quyền biểu quyết, chuyển nhượng phần vốn, gọi vốn và quyền của nhà đầu tư cũng cần được thiết kế rõ. Nếu những vấn đề này không được giải quyết ngay từ đầu, khi doanh nghiệp có giá trị lớn hơn thì tranh chấp cũng thường phức tạp hơn.

Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vì vậy không chỉ là câu chuyện của ý tưởng. Đó là quá trình kết hợp giữa công nghệ, thị trường, quản trị và pháp luật để tạo ra một mô hình có thể tồn tại, phát triển và cạnh tranh.

Phóng viên: Theo ông, cần làm gì để khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thực sự trở thành một nguồn lực của nền kinh tế thay vì chỉ tập trung ở một số doanh nghiệp hoặc dự án riêng lẻ?

Ông Nguyễn Duy Khương: Muốn hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp thực chất thì phải tạo được sự kết nối giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư, tổ chức hỗ trợ và thị trường.

Doanh nghiệp cần công nghệ, nhưng các viện nghiên cứu và trường đại học cũng cần cơ chế để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Các doanh nghiệp khởi nghiệp cần vốn, nhưng nhà đầu tư cần một môi trường pháp lý đủ rõ để đánh giá và quản trị rủi ro.

Nhà sáng lập cần được hỗ trợ về công nghệ, tài chính, pháp lý, sở hữu trí tuệ và thị trường chứ không chỉ tham gia các chương trình đào tạo hoặc cuộc thi ý tưởng.

Bộ sách của tác giả Nguyễn Duy Khương về quản trị và pháp luật doanh nghiệp.

Một vấn đề khác là phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn. Đây là một trong những con đường nhanh nhất để doanh nghiệp trẻ nâng tiêu chuẩn quản trị, chất lượng sản phẩm và tiếp cận thị trường.

Tôi cũng cho rằng chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo cần hướng nhiều hơn tới kết quả. Một doanh nghiệp có thể cần không gian thử nghiệm sản phẩm, tiếp cận dữ liệu, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc kết nối khách hàng đầu tiên. Những hỗ trợ đó tác động trực tiếp đến khả năng thương mại hóa sản phẩm.

Khi đổi mới sáng tạo trở thành hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, chứ không chỉ là một chương trình riêng biệt, năng suất của nền kinh tế mới có thể được cải thiện một cách bền vững.

Phóng viên: Được biết, từ thực tiễn nhiều năm hoạt động kinh doanh và nghiên cứu pháp luật, ông đã thực hiện cuốn sách “Pháp luật về quản trị hoạt động logistics”. Điều gì khiến ông lựa chọn cách tiếp cận pháp luật từ góc độ quản trị doanh nghiệp thay vì chỉ tập trung vào việc giải quyết tranh chấp?

Ông Nguyễn Duy Khương: Trong thực tiễn vận hành doanh nghiệp, tôi nhận thấy một hạn chế khá phổ biến là pháp luật thường chỉ được quan tâm khi rủi ro đã phát sinh: hợp đồng có vấn đề mới tìm luật sư, hàng hóa bị tổn thất mới rà soát trách nhiệm, công nợ kéo dài mới xem lại chứng từ hoặc khi xảy ra tranh chấp mới bắt đầu nghiên cứu căn cứ pháp lý.

Theo tôi, đó là cách tiếp cận bị động và tạo ra chi phí rất lớn cho doanh nghiệp.

Pháp luật cần được đưa vào ngay từ khâu thiết kế và vận hành hoạt động kinh doanh. Một hợp đồng rõ ràng, một quy trình giao nhận được chuẩn hóa, một hệ thống chứng từ đầy đủ hay việc phân định chính xác trách nhiệm giữa các bên có thể phòng ngừa rất nhiều tranh chấp trước khi chúng xảy ra.

Điều này đặc biệt rõ trong lĩnh vực logistics. Một lô hàng có thể đi qua nhiều phương thức vận tải, nhiều doanh nghiệp, nhiều địa bàn và chịu sự điều chỉnh của nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau.

Chỉ một sai sót trong vận đơn, chứng từ giao nhận, xác nhận tình trạng hàng hóa, thời hạn khiếu nại hoặc dữ liệu vận hành cũng có thể làm phát sinh tổn thất và tranh chấp.

Đối với những doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số, tự động hóa hay dữ liệu lớn vào logistics, yêu cầu quản trị còn rộng hơn.

Ngoài quan hệ hợp đồng truyền thống, doanh nghiệp phải kiểm soát dữ liệu, quyền truy cập hệ thống, trách nhiệm của nhà cung cấp công nghệ, tính liên tục của dịch vụ và khả năng bảo vệ thông tin kinh doanh.

Từ đó, tôi xây dựng Pháp luật về quản trị hoạt động logistics trên sự kết nối giữa quản trị vận hành, tuân thủ pháp luật và kiểm soát rủi ro. Quan điểm xuyên suốt là pháp luật không nên đứng bên ngoài hoạt động kinh doanh và càng không chỉ xuất hiện khi xảy ra tranh chấp.

Pháp luật phải trở thành một phần của hệ thống quản trị doanh nghiệp, giúp xác định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát ngay trong từng khâu vận hành.

Phóng viên: Từ thông điệp của cuốn sách, theo ông, việc đưa pháp luật vào quản trị có ý nghĩa như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics nói riêng và doanh nghiệp Việt Nam nói chung?

Ông Nguyễn Duy Khương: Tôi cho rằng cần thay đổi cách nhìn về chi phí pháp lý. Nếu chỉ xem pháp luật là công cụ để xử lý vụ việc sau khi tranh chấp xảy ra thì doanh nghiệp thường nhìn pháp lý như một khoản chi phí. Nhưng nếu pháp luật được tích hợp vào hệ thống quản trị, nó trở thành công cụ giúp doanh nghiệp bảo vệ tài sản, kiểm soát dòng tiền, giảm tranh chấp và nâng hiệu quả vận hành.

Đối với logistics, năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở giá cước hay tốc độ vận chuyển. Doanh nghiệp còn phải kiểm soát được hợp đồng, chứng từ, dữ liệu, trách nhiệm của từng chủ thể và rủi ro tại từng điểm giao nhận. Khi những yếu tố này được chuẩn hóa, doanh nghiệp có thể hạn chế tổn thất, rút ngắn thời gian xử lý sự cố và tạo được niềm tin với đối tác trong nước cũng như quốc tế.

Ông Nguyễn Duy Khương trình bày tham luận tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 khu vực miền Nam.

Vì vậy, tôi nhìn pháp luật như một dạng “hạ tầng mềm” của doanh nghiệp. Hạ tầng vật chất giúp hàng hóa lưu chuyển, còn hạ tầng pháp lý và quản trị giúp bảo vệ dòng hàng, dòng tiền và dòng dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Cuốn sách cũng được xây dựng từ cách tiếp cận đó, giúp nhà quản trị, bộ phận pháp chế và người làm logistics nhận diện rủi ro để xử lý ngay từ quy trình vận hành.

Ở phạm vi rộng hơn, một nền kinh tế muốn có những doanh nghiệp đủ sức vươn ra thị trường quốc tế cần phải có năng lực quản trị, khả năng tuân thủ và một hệ thống pháp lý nội bộ đủ mạnh để tham gia những chuỗi giá trị có tiêu chuẩn ngày càng cao.

Điều này càng có ý nghĩa với các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Giá trị của doanh nghiệp ngày càng nằm nhiều ở tài sản vô hình như công nghệ, dữ liệu, phần mềm, nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh và mạng lưới khách hàng. Nếu những tài sản này không được xác lập quyền sở hữu, bảo vệ và khai thác đúng cách thì doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị nhưng lại không giữ được giá trị đó.

Khát vọng làm giàu của doanh nhân vì vậy phải được đặt trên nền tảng của quản trị tốt, đổi mới sáng tạo và thượng tôn pháp luật. Khi doanh nghiệp chủ động kiểm soát rủi ro, bảo vệ tài sản hợp pháp, giữ chữ tín và nâng năng lực cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ, chất lượng quản trị và khả năng tạo ra sản phẩm mới, sự lớn mạnh của từng doanh nghiệp sẽ góp phần nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Theo phapluatplus.baophapluat.vn