Doanh nghiệp lớn mạnh, công nghệ lõi phải vươn lên

Bức tranh công nghiệp công nghệ số (CNCNS) của Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 cho thấy một giai đoạn phát triển mới, không chỉ lớn hơn về quy mô mà còn hiệu quả hơn về chất lượng tăng trưởng. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, doanh thu lĩnh vực CNCNS ước đạt hơn 5,387 triệu tỷ đồng, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2025; riêng tháng 9 đạt khoảng 770.766 tỷ đồng, tăng 36%.

Điều đáng chú ý là chỉ sau một năm, quy mô doanh thu của ngành đã tăng thêm khoảng 1,638 triệu tỷ đồng. Trong khi 9 tháng năm 2025, tốc độ tăng trưởng đạt 29,6%, thì năm nay con số này đã lên 32,1%, cho thấy ngành công nghệ số không chỉ mở rộng quy mô mà còn duy trì được đà tăng trưởng cao.

Xuất khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử trong 9 tháng ước đạt 175,62 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước; riêng tháng 9 đạt khoảng 25,1 tỷ USD, tăng 39%. So với năm 2025, giá trị xuất khẩu đã tăng thêm hơn 46 tỷ USD, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của công nghệ và điện tử trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia.

Phía sau những con số này là sự hiện diện của hàng loạt nhà máy sản xuất điện thoại, máy tính, linh kiện điện tử và thiết bị công nghệ đang hoạt động tại Việt Nam. Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được duy trì, trong khi doanh nghiệp trong nước từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, bài toán đặt ra vẫn là nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra, thay vì chỉ tham gia ở các công đoạn có giá trị thấp.

Không chỉ doanh thu và xuất khẩu tăng mạnh, lợi nhuận của ngành cũng tăng nhanh hơn tốc độ doanh thu. Trong 9 tháng, lợi nhuận CNCNS ước đạt hơn 384 nghìn tỷ đồng, tăng 35,3%; đóng góp ngân sách đạt gần 69,73 nghìn tỷ đồng, tăng 34%. Đây là tín hiệu cho thấy tăng trưởng không chỉ đến từ việc mở rộng thị trường mà còn phản ánh năng lực tạo giá trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Một nền công nghiệp muốn phát triển bền vững không chỉ cần doanh thu lớn mà còn phải tạo ra lợi nhuận để tái đầu tư cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường. Việc lợi nhuận tăng nhanh hơn doanh thu cho thấy các doanh nghiệp công nghệ số đang từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Công nghệ số lan tỏa đến từng địa phương

Cùng với sự gia tăng về quy mô, hệ sinh thái công nghệ số cũng đang mở rộng nhanh chóng. Hiện cả nước có khoảng 82.723 doanh nghiệp công nghệ số hoạt động; 14 khu công nghệ thông tin tập trung được thành lập, mở rộng hoặc công nhận. Đặc biệt, 34/34 địa phương đã ban hành kế hoạch phát triển doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số và 11 địa phương có doanh thu công nghệ số trên 1 tỷ USD mỗi năm.

6df062d5-9d4e-4d9c-88b9-9972b476a8c8.jpgCác đại biểu thảo luận về những khó khăn, vướng mắc và giải pháp triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. (Ảnh: MST)

Những con số này cho thấy công nghệ số không còn là lĩnh vực phát triển riêng của một vài trung tâm lớn mà đang dần trở thành động lực tăng trưởng ở nhiều địa phương. Khi doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ sở đào tạo cùng tham gia, một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang được hình thành với sự liên kết ngày càng chặt chẽ.

Một điểm mới đáng chú ý của năm 2026 là trí tuệ nhân tạo (AI) đang được đưa sâu hơn vào hoạt động của cơ quan nhà nước. Nền tảng AI hỗ trợ công vụ đã được triển khai tại toàn bộ 17 bộ, ngành và 34 địa phương, với hơn 35.500 tài khoản sử dụng.

Nếu doanh thu và xuất khẩu phản ánh sức mạnh của ngành công nghệ số trên thị trường, thì việc AI được ứng dụng trong quản lý nhà nước cho thấy công nghệ đang dần thay đổi phương thức điều hành, cung cấp dịch vụ công và phục vụ người dân. Đây cũng là bước chuyển quan trọng để xây dựng nền quản trị hiện đại, lấy dữ liệu làm trung tâm và AI làm công cụ hỗ trợ ra quyết định.

Nhà nước đặt bài toán, doanh nghiệp làm sản phẩm

Tuy nhiên, quy mô lớn chưa đồng nghĩa với sức mạnh nội sinh. Để công nghệ số thực sự trở thành nền tảng của tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tiến thêm một bước: làm chủ công nghệ lõi và hình thành các sản phẩm chiến lược có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Tại Hội nghị triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược ngày 23/9, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy đề xuất đề tài sang phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có đầu ra cụ thể, làm chủ công nghệ lõi và có địa chỉ ứng dụng rõ ràng.

e2eb9ddd-4ff8-4d4a-8911-1931c37683c8.jpgThứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: MST)

Theo Thứ trưởng, hành lang pháp lý phục vụ phát triển công nghệ chiến lược cơ bản đã hình thành. Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện có chất lượng, huy động sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương ngay từ khi hình thành nhiệm vụ.

Với những nhiệm vụ cần nguồn vốn lớn, thời gian dài, rủi ro cao nhưng có khả năng tạo tác động lan tỏa, Nhà nước cần xác định bài toán, chia sẻ rủi ro và tạo điều kiện hình thành thị trường ban đầu. Tuy nhiên, việc đặt hàng phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng thực tế, xác định rõ yêu cầu kỹ thuật, mốc kết quả, địa chỉ tiếp nhận và trách nhiệm của từng bên.

Đối với những công nghệ đã có khả năng phát triển thành sản phẩm đưa ra thị trường, doanh nghiệp cần đóng vai trò chính trong hoàn thiện, sản xuất và thương mại hóa. Với công nghệ còn ở giai đoạn nghiên cứu, viện nghiên cứu và trường đại học giữ vai trò chủ đạo.

Thực tế, một số nhiệm vụ công nghệ chiến lược đã được đề xuất, thẩm định và phê duyệt, song mức độ tham gia của doanh nghiệp và nguồn lực ngoài ngân sách chưa tương xứng với mục tiêu chương trình. Vì vậy, Thứ trưởng yêu cầu chuyển rõ sang tư duy đề xuất sản phẩm, gắn với cam kết nguồn lực và khả năng giải quyết một bài toán cụ thể.

Thành công của nhiệm vụ không chỉ nằm ở kết quả nghiên cứu mà phải được đo bằng công nghệ lõi được làm chủ, sản phẩm hình thành, nguồn lực xã hội huy động và khả năng ứng dụng, thâm nhập thị trường.

Tại hội nghị, các đại biểu tập trung trao đổi về cơ chế phối hợp, thử nghiệm sản phẩm, quy trình đặt hàng, nguồn lực đối ứng và địa chỉ ứng dụng. Đại diện doanh nghiệp đề xuất tăng kết nối với thị trường, giải quyết đúng bài toán của địa phương và tạo điều kiện thử nghiệm những sản phẩm đã nghiên cứu, phát triển như camera AI tại các địa bàn có nhu cầu.

Các đại biểu cũng chỉ ra những khó khăn trong xác định địa chỉ ứng dụng, môi trường thử nghiệm và cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp với viện, trường, nhất là đối với các công nghệ phục vụ đường sắt.

Thị trường là nơi kiểm chứng công nghệ

Thứ trưởng Lê Xuân Định yêu cầu xác định rõ vai trò của từng chủ thể trong toàn bộ quá trình. Các bộ, ngành tổ chức kêu gọi đề xuất công khai, lựa chọn đúng bài toán và bảo đảm tiến độ; địa phương chủ động xác định nhu cầu, tạo điều kiện thử nghiệm, sử dụng và hình thành thị trường cho sản phẩm mới. Doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cần tham gia từ sớm, làm rõ sản phẩm đầu ra, công nghệ lõi, nguồn lực và địa chỉ ứng dụng.

Cùng với đó, cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc về quy trình, hồ sơ, cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, nguồn lực đối ứng, thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm. Việc lựa chọn nhiệm vụ phải bảo đảm công khai, minh bạch, dựa trên năng lực thực tế, không chạy theo số lượng.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, thời hạn tiếp nhận đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt là trước ngày 30/9/2026.

Như vậy, đã có một sự chuyển động mạnh mẽ trong tư duy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: từ nghiên cứu hướng tới sản phẩm, từ sản phẩm hướng tới thị trường và từ nguồn lực Nhà nước sang huy động sức mạnh của cả hệ sinh thái. Công nghệ chiến lược vì thế không chỉ cần được nghiên cứu và làm chủ, mà phải đi được vào đời sống, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh và giá trị thực tế.

Nhìn từ những kết quả sau 9 tháng năm 2026, công nghiệp công nghệ số Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với quy mô lớn hơn, tốc độ tăng trưởng cao hơn và phạm vi ứng dụng rộng hơn. Song chặng đường phía trước không chỉ là câu chuyện tăng doanh thu hay mở rộng xuất khẩu. Điều quan trọng hơn là nâng tỷ lệ giá trị Việt Nam trong mỗi sản phẩm công nghệ, xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao và hình thành những doanh nghiệp có khả năng làm chủ công nghệ chiến lược.

Khi tăng trưởng gắn với đổi mới sáng tạo, thị trường gắn với nghiên cứu và doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp công nghệ số sẽ không chỉ là một ngành kinh tế có quy mô lớn mà còn trở thành nền tảng nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của đất nước trong kỷ nguyên mới.