Cho tặng tài sản trong quá trình hôn nhân và câu chuyện pháp lý

Đăng lúc: 2026-01-13 18:49:52 | Bởi: admin | Lượt xem: 0 | Chuyên mục: Pháp luật

Tài sản được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có thể là tài sản riêng hoặc tài sản chung, tùy thuộc vào ý định của người tặng cho.

Bạn đọc Lê Hải (Hưng Yên) hỏi: Thế nào là tài sản tặng cho riêng và thế nào là tài sản tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân?

Tài sản được tặng cho trước khi kết hôn đương nhiên sẽ được xác định là tài sản riêng nếu sau khi kết hôn người được tặng cho không nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Tuy nhiên trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được cho tặng lại có thể được xác định là tài sản chung hoặc riêng tuỳ thuộc vào từng trường hợp khác nhau. Pháp luật đã có quy định cụ thể về vấn đề này.

Cho tặng tài sản trong quá trình hôn nhân và câu chuyện pháp lý
Cho tặng tài sản trong quá trình hôn nhân và câu chuyện pháp lý. (Hình minh hoạ)

Tài sản được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có thể là tài sản riêng hoặc tài sản chung, tùy thuộc vào ý định của người tặng cho (tặng riêng hay tặng chung vợ chồng) và thỏa thuận của vợ chồng.

Nếu được tặng cho riêng một người, đó là tài sản riêng; nếu được tặng cho chung cả hai, hoặc người được tặng tự nguyện nhập vào tài sản chung, nó trở thành tài sản chung.

Trường hợp tài sản được cho tặng là tài sản chung

Tài sản được tặng cho trở thành tài sản chung của vợ chồng nếu được tặng cho chung cả hai người, hoặc được tặng cho riêng một người nhưng người đó tự nguyện nhập vào tài sản chung, hoặc không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.

Khi tài sản được cho tặng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nó sẽ thuộc sở hữu của cả hai vợ chồng và việc định đoạt (bán, thế chấp, tặng cho...) phải có thỏa thuận bằng văn bản của cả hai, đặc biệt là đối với bất động sản; nếu chỉ một bên ký kết mà không có sự đồng ý của người còn lại, hợp đồng có thể vô hiệu, trừ trường hợp tài sản là nguồn thu nhập chính hoặc đã thỏa thuận nhập riêng vào chung.

Tài sản chung có thể là do được tặng cho chung, hoặc do một bên được tặng riêng nhưng đồng ý nhập vào tài sản chung bằng văn bản.

Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trong đó, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được tặng cho chung sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ, chồng. Cả 2 người đều có quyền sở hữu, định đoạt như nhau đối với tài sản này.

Trường hợp tài sản được tặng cho là tài sản riêng

Tài sản cho tặng riêng trong hôn nhân là tài sản do cha mẹ hoặc người thân tặng cho một người vợ hoặc chồng.

Để xác định đây là tài sản riêng của chỉ người vợ hoặc chỉ người chồng trong thời kỳ hôn nhân, cần có chứng cứ rõ ràng (hợp đồng, giấy tờ đứng tên riêng) thể hiện ý chí tặng cho riêng, không phải tặng cho chung cả hai vợ chồng.

Tài sản này được xác định là tài sản riêng, thuộc quyền sở hữu của người được tặng cho, họ có toàn quyền sử dụng, định đoạt và có thể quyết định nhập vào tài sản chung hay không.

Cụ thể, tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Vợ chồng có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, quyết định nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Để nhận tài sản cho tặng riêng, người được cho tặng và người cho tặng cần tuân thủ các quy định của pháp luật về cho tặng tài sản.

Tặng cho tài sản riêng là hành vi pháp lý, theo đó một cá nhân hoặc tổ chức chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản cho cá nhân hoặc tổ chức khác mà không yêu cầu hồi trả một phần hay toàn bộ giá trị tài sản.

Theo Bộ luật Dân sự 2015, tài sản có thể là động sản (như xe cộ, tiền mặt, đồ dùng) hoặc bất động sản (như nhà, đất).

Việc tặng cho tài sản không chỉ cần tuân theo quy định pháp luật mà còn phải đảm bảo rằng tất cả các bên đều đồng thuận và cam kết thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng tặng cho tài sản.

Quá trình tặng cho tài sản cần được thực hiện tại văn phòng công chứng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện đã được pháp luật quy định.

Theo phapluatplus.baophapluat.vn