NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA NGHI LỄ XUẤT GIA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM

Đăng lúc: 2026-01-07 11:09:00 | Bởi: admin | Lượt xem: 2 | Chuyên mục: Tinh hoa nghề Việt

Dân tộc Khmer là một trong những chủ thể đầu tiên khai hóa vùng đất Nam Bộ. Điểm đặc biệt nhất trong văn hóa người Khmer Nam bộ là chủ yếu theo Phật giáo Nam tông Khmer. Chính vì thế các hình thức sinh hoạt trong cộng đồng, sinh hoạt trong Phật giáo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là chất men kết dính, bền chặt nhất, đây là nét đặc thù nổi bật nhất của xã hội người Khmer truyền thống; trong đó, ngôi chùa chiếm vị trí quan trọng trong đời sống người Khmer. Gắn với ngôi chùa, người Khmer từ lâu đã hình thành nên truyền thống xuất gia – một nét đặc trưng, đặc sắc của văn hóa người Khmer.

Nghi lễ xuất gia Phật giáo Nam tông Khmer

Nghi lễ xuất gia: Là nghi lễ đặc trưng riêng biệt của Phật giáo, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một người tu sĩ khi muốn bước chân vào hàng ngũ tăng đoàn. Nghi lễ xuất gia của Phật giáo mang một số đặc trưng tiêu biểu: Trước hết, mang đặc trưng riêng, gắn liền với hình ảnh người tu sĩ Phật giáo. Thứ hai, nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội. Thứ ba, nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do tư tưởng Phật giáo đặt ra, điều này có nghĩa là các thành viên đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Tuy nhiên, tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ, do ảnh hưởng của những đặc trưng văn hóa, xã hội tiêu biểu mà nghi lễ xuất gia có thể có một số biến đổi. Cuối cùng, nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng trong lịch sử Phật giáo (Nguyễn Công Hoan, 2010).

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc là một mảng ghép mang những sắc màu riêng. Cộng đồng dân tộc Khmer ở Việt Nam hiện có khoảng 1,3 triệu người, là cộng đồng dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer (đây là tộc người có số dân đông nhất trong các dân tộc sử dụng ngôn ngữ Môn – Khmer ở nước ta), sống tập trung tại một số tỉnh khu vực Nam Bộ như: Cần Thơ, An Giang… đây là dân tộc đã sinh sống lâu đời ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Người Khmer ở Nam Bộ thường chọn những giồng đất cao để sinh sống và do tính chất di cư tự do nên đã tập trung lại thành những đơn vị xã hội tự quản truyền thống, với hai thiết chế xã hội là “phum” “sóc”. Phum là đơn vị xã hội nhỏ nhất, có khi chỉ là khu đất gồm từ 3 đến 8 gia đình nhỏ có quan hệ thân tộc cùng cư trú; sóc do nhiều phum hợp lại và là đơn vị xã hội hoàn chỉnh nhất của người Khmer. Nét đáng chú ý trong văn hóa người Khmer là người Khmer rất sùng kính đạo Phật. Mọi sinh hoạt cộng đồng của người Khmer đều diễn ra ở chùa, vì thế ngôi chùa có một vị trí đặc biệt quan trọng, chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là nơi học chữ, là nơi sinh hoạt văn hóa, vị sư trong chùa không chỉ là người thầy tâm linh mà còn là người thầy dạy chữ, người thầy hướng dẫn sinh hoạt văn hóa nên rất được tôn trọng.

Theo truyền thống của người Khmer, tất cả trẻ em trai khi đến tuổi (12 đến 19 tuổi) đều phải vào chùa tu tập một thời gian. Họ có thể tu theo ba hình thức: tu báo hiếu, tu trả lễ và tu suốt đời. Trong đó, tu báo hiếu là một tục lệ bất thành văn mà mọi trẻ em nam trong độ tuổi (trước đây từ 6-7 tuổi) đều phải vào chùa tu tập một thời gian (ít nhất là 3 năm). Đó là môi trường vừa học đạo vừa rèn luyện tu dưỡng bản thân, hình thành nhân cách, học văn hóa (học tiếng Khmer và chữ Pali-Nam Phạn để học kinh điển Phật giáo Nam tông), học nghề, kinh nghiệm sống do các sư sãi hay các Achar truyền dạy. Bởi vậy trước đây, người Khmer luôn khuyến khích con em vào chùa tu học. Người nào không tu học trong chùa sẽ bị cộng đồng phum, sóc dị nghị, bị coi là người chưa trưởng thành (Nguyễn Phú Lợi, 2022). Người Khmer đi tu theo truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tu để học, tu để hoàn chỉnh bản thân, tu để trao dồi đạo hạnh và mục đích cuối cùng là để phụng sự đạo pháp và dân tộc, xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.

Lễ xuất gia Sa di thường được tổ chức vào dịp tết Chôl Chnăm Thmây theo truyền thống đồng bào dân tộc Khmer. Trước thời gian tu khoảng vài tháng các thanh thiếu niên muốn vào chùa xuất gia tu học phải đi học kinh tụng, các giới luật của Sa di cơ bản và kinh lễ bái tam bảo ở nhà ông Achar trong xóm.

Trước ngày tết Chôl Chnăm Thmây khoảng một tuần cha mẹ dẫn con đến chùa gặp Hòa thượng trụ trì trong chùa để được hướng dẫn các thủ tục làm đơn xin phép chính quyền địa phương và Giáo hội Phật giáo. Độ tuổi xuất gia không có giới hạn tùy vào nhân duyên của mỗi người khác nhau. Vì vậy, có người xuất gia ở độ tuổi rất trẻ, cũng có người xuất gia ở độ tuổi trưởng thành, già… số lượng thanh thiếu niên vào xuất gia cũng không cố định, tùy vào từng năm. Trước tết Chôl Chnăm Thmây một ngày tức ngày 13/04 dương lịch, ở nhà thanh thiếu niên sau khi được ông Achar hướng dẫn xuống tóc xong, sau đó giới tử ăn mặc đồng phục màu trắng và tay cầm Khay1 trong đó có 5 cây đèn cầy, 5 cây nhang… giới tử đi từng nhà bà con trong xóm để xin phép đi xuất gia cũng như nói lời giã từ với bà con quyến thuộc, láng giềng... Khi trở về nhà giới tử thay đồ mặc vải hôl và pia nia trắng, Achar hướng dẫn làm lễ cúng ông bà tổ tiên với 2 mâm cơm để thể hiện lòng tưởng nhớ và xin phép cho giới tử đi xuất gia ở chùa.

Tiếp đến ông Achar, cha mẹ giới tử và tất cả thân bằng quyến thuộc, anh chị em, bạn bè, bà con trong xóm làm lễ cột chỉ tay cho giới tử để hướng đến việc cầu phúc và gửi kèm theo ít tứ vật dụng để người xuất gia sử dụng vào những việc cần thiết trong thời gian tu tại chùa. Theo như truyền thống Phật giáo việc cột chỉ tay này có từ thời đức Phật Nhiên Đăng (Buddha Dīpaṅkara) còn tại thế.

Vào buổi chiều cùng ngày gia đình giới tử được Ông Achar hướng dẫn chuẩn bị các phương tiện để đưa rước giới tử đến chùa. Đối với chùa Cà Nhung (An Giang), Phật tử thường đưa rước giới tử đi chùa bằng thuyền, xuồng là chủ yếu vì ở đây đa số bà con ở trong vùng đồng bằng sông nước đi lại đa số bằng ghe, thuyền là phương tiện chính.

Tại chùa vào buổi chiều khoảng 6 giờ, Achar tập trung các giới tử ở trước sân ngôi trai đường để thực hiện nghi thức cột chỉ tay cho giới tử và cúng cơm Krong pia li, các lễ vật cúng gồm có: 2 mâm cơm để cột chỉ tay, Sala tho, bai say, tean trui...

Vào buổi tối khoảng 18 giờ chư phật tử tập trung vào trai đường lễ bái tam bảo, thọ trì tam quy và ngũ giới, cung thỉnh chư tăng tụng kinh cầu an phúc chúc năm mới, đồng thời tụng kinh cầu siêu hồi hướng phước báu đến các bậc hữu ân của quý phật tử đã quá vãng để được sanh về cõi giới an vui. Sau đó cung thỉnh chư tăng ban bố thời pháp thí nói về nguồn gốc và ý nghĩa của tết Chôl Chnăm Thmây.

Trong suốt quá trình tổ chức lễ xuất gia, còn có những nghi lễ phụ trợ để làm nâng cao giá trị nghi lễ xuất gia tạo nên tính uy nghiêm cho buổi lễ, để là điểm nhấn khởi đầu bước vào nếp sống mới của người tu sĩ nơi tự viện trong khuôn khổ giới luật nhà Phật. Trải qua thời gian, do điều kiện kinh tế và trình độ ngày càng cao, thêm vào đó là sự chuyển biến không ngừng phát triển, các hình thức trong buổi lễ dần trở thành văn hoá của nghi lễ xuất gia đối với dân tộc cho đến cộng đồng xã hội.

Việc thực hiện nghi lễ xuất gia ngày nay với người Khmer, ngoài mang ý nghĩa tôn kính Tam Bảo còn là có vẻ như là một số lý do rất phổ biến để gia nhập cộng đồng tu sĩ hoặc do phong tục tập quán, truyền thống văn hóa coi việc xuất gia là một nghĩa vụ đạo đức cao cả của người Khmer Nam Bộ.

Giá trị văn hóa của nghi lễ xuất gia Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam

Nghi lễ xuất gia là nghi lễ quan trọng, thể hiện triết lý Phật giáo Nam tông Khmer:

Trong Phật giáo, nghi lễ xuất gia có vai trò quan trọng, đánh dấu sự kiện quan trọng của người theo đạo, khẳng định nguyện vọng tu hành, bắt đầu từ bỏ cuộc sống thế tục, làm lễ tuyên bố nguyện vọng xuất gia, cảm ơn và chia tay gia đình, và chính thức bước vào con đường tu hành giải thoát. Đây là một nghi lễ trang trọng, đánh dấu bước ngoặt trong đời, giúp người xuất gia tin sâu vào Tam Bảo, từ bỏ danh lợi và dục vọng, để sống đời phạm hạnh và thực hiện lý tưởng giải thoát. Tư tưởng giải thoát của Phật giáo được thể hiện rõ nét qua nghi lễ xuất gia. Giải thoát theo triết lý Phật giáo tức là trạng thái tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt hết mọi dục vọng, dập tắt ngọn lửa dục vọng để đạt tới cõi Niết bàn (Nirvana) với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh. Đây là nghi lễ cơ bản của Phật giáo.

Việc thực hành nghi lễ xuất gia không chỉ gìn giữ lễ nghi phép tắc mà còn gìn giữ trong sạch năm giới cấm cá nhân của mỗi con người là căn bản đạo đức Phật giáo, mang lại sự ổn định cho bản thân và không làm tổn hại đến người khác cũng như gia đình và xã hội. Kể từ khi xuất gia, người tín đồ cởi bỏ những ràng buộc thế tục, bước vào con đường tu hành, gìn giữ giới luật giúp con người từ bỏ điều ác, hướng tới làm những việc lành, tăng trưởng đạo đức. Mục đích của nhà Phật khi hành trì giới là sự tu trì huấn luyện cho bản thân, cũng như cho mọi người, là tránh gây tổn hại cho cá nhân, gia đình và hơn hết là xã hội, giúp cuộc sống của nhân loại được bình yên, hòa bình với công lý vì ai cũng mong muốn cuộc sống của mình được bình yên và hạnh phúc. Đó là tư tưởng sâu sắc thể hiện qua nghi lễ xuất gia.

Đối với Phật giáo Nam tông Khmer, nghi lễ xuất gia góp phần tạo nên hình tượng người sư sãi trang nghiêm về giới hạnh, duy trì về số lượng sư sãi Phật giáo ổn định hơn, tạo nên sức mạnh tinh thần đoàn kết trong Tăng đoàn, có vai trò và vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn trong đời sống, tín ngưỡng của cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ. Các nhà sư của Phật giáo Nam tông Khmer được quần chúng nhân dân kính trọng vì họ là những người có trình độ tri thức, giàu kinh nghiệm, là lực lượng ưu tú của dân tộc và xã hội Khmer truyền thống, vì vậy họ có ảnh hưởng rất nhiều đến tín đồ. Phần lớn các nhà sư Phật giáo được coi là “người thầy” trong đời sống tâm linh, tinh thần của họ và cũng là những người chăm sóc, hướng dẫn và đại diện cho họ trong các vấn đề tôn giáo. Trong Tăng đoàn cũng đã có nhiều nhà sư Khmer tích cực đóng góp cho các hoạt động xã hội, nhiều người là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, tham gia Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Ngoài việc thực hành giáo lý của Phật để đi đến giác ngộ giải thoát, các nhà sư còn là những gương sáng dìu dắt đời sống tinh thần cho các tín đồ, đồng bào nhân dân Khmer và còn là người chỉ dẫn, huấn luyện tri thức, huấn luyện dạy nghề, kỹ thuật sản xuất, giảng dạy cho các thế hệ người Khmer. Các nhà sư Khmer cũng là những trí thức, họ nắm giữ những tinh hoa tri thức tích lũy qua nhiều thế hệ người Khmer từ ngôn ngữ đến nghệ thuật, kinh nghiệm sản xuất đến các nghi lễ văn hóa truyền thống, đạo đức trong cuộc sống (Nguyễn Đức Dũng, 2012).

Giá trị giáo dục đạo đức của nghi lễ xuất gia Phật giáo Nam tông Khmer:

Đồng bào người Khmer luôn đặt trọn tâm tư, niềm tin của họ nơi Đức Phật, giáo Pháp bằng sự thể hiện tôn kính chư Tăng nơi tự viện. Do đó, họ gửi gấm con em đến chùa để học tập và thực hiện nghi lễ xuất gia như là sự đền đáp công ơn của ông bà, cha mẹ. Lòng hiếu đạo đạo này thể hiện bằng sự xuất gia tu tập của người con qua việc gìn giữ tinh nghiêm giới luật, tinh tấn tu tập thiền định nhằm báo hiếu cha mẹ mà hầu hết các gia đình tín đồ phật tử luôn tận tâm thực hiện. Có thể nói đây là điểm nồi bậc nhất về văn hóa trong Phật giáo Nam tông Khmer thể hiện qua nghi lễ xuất gia.

 Các chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng như luật tục và các quy định tôn giáo được thể hiện rõ phù hợp trong nghi lễ xuất gia. Sự nghiêm túc của từng nghi lễ trước khi bước vào lễ xuất gia diễn ra tại các ngôi chùa Nam tông Khmer thể hiện rõ nét truyền thống giáo dục của cộng đồng đối với thế hệ hôm nay và mai sau càng tăng thêm giá trị tốt cho đời đẹp cho đạo. Việc thực hiện nghi lễ xuất gia theo từng giai đoạn, thời gian, không gian phù hợp với từng cá nhân và hoàn cảnh gia đình là chỗ dựa tinh thần của mỗi cá nhân khi phải chuyển sang một hình tượng tu sĩ mới, và vị trí mới theo quy luật sinh học xã hội. Thông qua việc thực hiện nghi lễ, từ hành vi, lễ vật, lời nói… cũng như Tăng sự tuyên ngôn và thành sự ngôn đều là những chất liệu hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc theo từng nghi lễ trong tự viện của lễ xuất gia sadi, lễ xuất gia Tỳ Kheo, nghi lễ buộc chỉ tay, hay nghi thức cắt chỉ tay trong lễ xuất gia... nó không chỉ mang tính chất ý nghĩa thiêng liêng, hướng tới cuộc sống mới trong tương lai, mà còn là giáo dục lối sống đạo đức, tinh thần của sự lạc quan tạo nên động lực để vượt qua những bế tắc và thích nghi trong cuộc sống hiện tại, cũng vừa là để bắt kịp theo nhịp sống xã hội hiện đại.

Ngoài ra, giá trị của nghi lễ xuất gia Thervāda Khmer không chỉ được thực hiện đúng theo tinh thần giới luật mà còn được vun đắp, tô đẹp thêm cho chất lượng cuộc sống hiện tại và tương lai của người xuất gia, như nghi lễ buộc chỉ, cắt chỉ trong nghi lễ xuất gia sadi, riêng đối với lễ thọ giới Tỳ Kheo, nghi thức tuyên ngôn và thành sự ngôn khi đã được thành tựu, nghi thức truyền giới, nghi thức giáo huấn của thầy tế độ cho các tân Tỳ Kheo... đều hướng các đệ tử đến với sự hoàn thiện đạo đức, duy trì giới bổn (pātimokkha) được trường tồn lâu dài; Đức Phật dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn: “Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi”2.

Đặc biệt là nghi lễ xuất gia được thực hiện một cách chan hòa, vị tha, trung thực, trang nghiêm... từ đó hình thành nhân cách sống lành mạnh, sống có ích cho bản thân và cộng đồng xã hội. Mặc dù những tín đồ đã được xuất gia với nhiều mục đích khác nhau so với Phật giáo sơ khai, nhưng một khi đã thực hành đúng theo nghi lễ xuất gia thụ giới, họ vẫn được tôn vinh và kính trọng bởi vẻ ngoài của một nhà sư Phật giáo đích thực. Những từ ngữ phổ biến được mô tả ngày nay đề cập rằng việc xuất gia nhằm mục đích như một hành động hiếu đạo hoặc tỏ lòng biết ơn đối với các bậc cha mẹ, ông bà trong gia tộc của họ vì đức hạnh và tấm lòng thương yêu vô bờ bến của cha mẹ đối với con cái vì sự quan tâm của họ, và cũng là lẽ tự nhiên mà người con đã xuất gia cũng để làm tròn bổn phận hiếu đạo, để xứng đáng là một Phật tử tốt, một con người tốt trong cộng đồng tu sĩ và cũng là một công dân tốt của xã hội và đất nước. Với người Khmer, nghi lễ xuất gia mang một ý nghĩa tâm linh cao đẹp, là thước đo tiêu biểu cho giá trị đạo đức của một người đã được xuất gia tu tập rèn luyện nhân cách phù hợp với cuộc sống từ nơi tự viện cho đến xã hội. Sự xuất gia tu tập không chỉ trở thành luật chung, mà còn có những quy định rất cụ thể trong quá trình hành đạo nhằm tạo ra những quy định riêng trong chùa và trong hệ phái, trong giới hạnh của bản thân mỗi cá nhân. Ai không xuất gia tu hành sẽ bị đồng bào coi thường, không có Phật tính, không hiểu đạo lý ở đời, chưa đủ tư cách đạo đức đối nhân xử thế ở đời. Thực tế cuộc sống đời thường đã cho thấy rằng, người con trai không đi tu rất khó được cưới gã, lấy vợ. Đây là quy định có nhiều ảnh hưởng quan trọng đến người đồng bào Khmer cũng như cộng đồng dân tộc theo Phật giáo Nam tông.

Nghi lễ xuất gia góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer:

Dưới sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, ghi lễ xuất gia của người Khmer Nam Bộ hiện nay có đôi nét biến đổi, đôi nét khác biệt về cách thức tổ chức rất đa dạng tùy thuộc mỗi địa phương khác nhau góp phần làm giàu thêm những nét đặc trưng cho văn hóa bản địa. Nét phong phú này cũng làm cho buổi lễ xuất gia thêm phần linh động trong sinh hoạt tổ chức vừa là duy trì giá trị thiêng liêng của buổi lễ xuất gia trong Phật giáo vừa là thể hiện rõ bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc của đồng bào Khmer cùng hòa quyện với tín ngưỡng dân gian mà tổ tiên để lại. Theo thời gian, không gian và hình thức, nghi lễ xuất gia trong tự viện cùng hòa quyện với tín ngưỡng dân tộc góp phần làm rõ nét uy linh nơi Tam Bảo mà hàng tín đồ Phật tử cùng tác hành một cách trang trọng.

Mặt khác, các nghi lễ xuất gia sadi tuy mang tính riêng lẻ ở từng ngôi chùa nhưng các nghi lễ đều được thực hiện phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc, có sự đồng cảm, chia sẻ và tham gia của bà con trong cộng đồng xã hội. Qua đó, tạo sự gắn kết trong cộng đồng, tinh thần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ.

Tóm lại, xuất gia là nghi lễ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo, là sự cầu tiến của con người, tìm tự tại giải thoát và chân thành sống với đời. Xuất gia hoàn toàn là một sự tự nguyện cá nhân không có bất kỳ một sự gán ép nào. Xuất gia là sống với một đoàn thể Tăng già hòa hợp, dung hòa một cá thể vào trong đại chúng để rèn luyện chất lượng bản thân, thực hiện lý tưởng giải thoát; đồng thời, đem năng lượng từ bi và trí huệ của đại chúng chuyển hóa thế gian, thúc đẩy cá nhân và cộng đồng không ngừng tinh tấn để hướng đến mục tiêu cuối cùng là giác ngộ Tứ Thánh Đế, giải thoát, Niết Bàn. Với người Khmer Nam Bộ, Phật giáo Nam tông là tôn giáo truyền thống của họ, ngôi chùa là trung tâm trong đời sống tinh thần của họ. Với người Khmer Nam Bộ, nghi lễ xuất gia có một vai trò quan trọng, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo, giàu bản sắc.

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Đức Dũng (2012), Góp phần hoàn thiện chính sách đối với Phật giáo Nam Tông Khmer, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 7.
2. Nguyễn Công Hoan (2010), Tiếp cận nghi lễ chuyển đổi trong nghiên cứu tôn giáo học, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 10, tr 15-18.
3. Nguyễn Phú Lợi (2022), Sự chuyển biến của Phật giáo Nam tông Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, tập 221, số 5, tr. 58-75.
4. Thiện Minh (2017), Giáo trình Lược sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, Nxb .Hồng Đức, Hà Nội.
 

1. Cái Khay bằng gỗ trong đó gồm có 5 cầy đèn, 5 cây Nhang, 5 hoa sen, 5 cốc nước tượng trưng để thờ cúng 5 vị Phật trong quả địa cầu này.
2. Hòa Thượng Thích Minh Châu, Kinh Trường Bộ, NXB. Tôn giáo, tr. 208.

Theo doithoaiphattrien.vn